Hỏi: Kính bạch thầy, nhà con có thờ Phật. Hiện nay, cha mẹ con vẫn còn sống và ông bà có thiết lập bàn thờ bên nội, bên ngoại. Nhưng có người bảo con phải thờ thêm Cửu huyền Thất tổ nữa mới đúng. Như vậy, con có nên thờ thêm hay không?
Đáp: Việc thờ phụng tổ tiên ông bà là một phong tục tập quán cổ truyền của người Việt Nam chúng ta. Đây cũng còn là một truyền thống văn hóa hiếu đạo rất cao đẹp tuyệt vời của dân tộc ta. Vì dân tộc ta rất chú trọng đến việc lễ nghi thờ phụng, nhất là đối với vấn đề tri ân và báo ân. “Uống nước nhớ nguồn, hay ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây”. Đó là những lời khuyến nhắc răn dạy của tổ tiên. Đạo làm con bao giờ chúng ta cũng phải nhớ đến cội nguồn. Cội nguồn đó là tổ tiên, ông bà, cha mẹ của chúng ta. Họ là những người đã dầy công giáo dưỡng chúng ta khôn lớn nên người. Thế nên, bổn phận làm con chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ công ơn sanh thành giáo dưỡng của ông bà cha mẹ hầu để lo báo đáp thâm ân trong muôn một. Bởi đó là một công lao to lớn mà ở thế gian nầy không gì có thể so sánh được.
Theo nguồn gốc hiếu đạo, có tổ tiên mới sanh ra ông bà và có ông bà mới sanh ra cha mẹ. Vì thế, đối với con cái phải lo phụng dưỡng ông bà cha mẹ khi còn sống và phải tôn thờ cúng kỵ khi người đã khuất bóng. Đó là bổn phận của đạo làm con. Trong trường hợp của Phật tử, hiện cha mẹ còn sanh tiền, vả lại ông bà cũng có thờ phụng tổ tiên ông bà nội ngoại hai bên, như vậy, theo tôi, nếu như Phật tử muốn thờ thì cần phải hỏi ý kiến của cha mẹ trước. Đừng vì nghe người ta nói mà mình vội làm theo. Người xưa nói: “áo mặc sao qua khỏi đầu”. Đối với việc thờ cúng tổ tiên ông bà, Phật tử không nên tự động làm theo ý mình, khi mà cha mẹ còn sống. Trước khi muốn thờ, Phật tử cần phải thưa qua cho cha mẹ biết và phải được sự đồng ý cho phép của ông bà. Thế mới phải đạo làm con.
Còn người nào đó bày vẽ cho Phật tử, có thể là vì họ chưa biết Phật tử còn cha mẹ. Hoặc giả như họ có biết đi chăng nữa, nhưng thiết nghĩ, họ cũng chưa rành mấy về việc lễ nghi, nhất là về cách thức thờ phụng tổ tiên. Tại sao lại phải thờ cửu huyền, trong khi cha mẹ mình vẫn còn sống? Thông thường, người ta hay nói thờ Cửu huyền Thất tổ. Có đôi khi người ta cũng chưa hiểu rõ bốn chữ nầy như thế nào. Riêng hai chữ cửu huyền, thú thật, từ trước tới nay, chúng tôi đã tra cứu trong các quyển tự điển Phật học và Hán tự, nhưng không thấy chỗ nào có nêu ra hai chữ nầy cả. Chỉ thấy trong quyển Từ Điển Hán Việt Từ Nguyên của ông Bửu Kế và quyển Hán Việt Từ Điển của ông Đào Duy Anh, cả hai chỉ có nêu ra hai chữ cửu tộc và giải thích mà thôi. Tuyệt nhiên, không thấy có nêu ra hai chữ cửu huyền.
Theo trong Từ Điển Hán Việt Từ Nguyên của ông Bửu Kế, Nhà xuất bản Thuận Hóa, ở trang 328 giải thích, thì cửu tộc có nghĩa là chín lớp người trong một họ. 1. bản thân. 2. Cha. 3. Con. 4. Ông nội. 5. Cháu nội. 6. Ông cố. 7. Cháu tằng tôn. 8. Ông sơ. 9. Cháu huyền tôn. Ông còn nói thêm, có thuyết cho rằng: Cửu tộc gồm có: Họ nội 4, họ ngoại 3 và họ vợ 2. Căn cứ theo sự giải thích trên, thì tính từ bản thân mình trở lên gồm có 4 đời hay nói đúng hơn là trải qua 4 thế hệ: Cha, Ông nội, Ông cố, Ông sơ. Trở xuống 4 đời: Con, Cháu, Chắt, Chít. Tính luôn mình chung lại là 9 đời hay 9 thế hệ. Chữ huyền có nghĩa là sợi dây nối kết trải qua nhiều đời (chữ huyền có nhiều chỗ giải thích khác nhau).
Nếu phiên âm bằng chữ Hán thì được viết như sau: Cao, Tằng, Tổ, Khảo, Kỷ, Tử, Tôn, Tằng, Huyền. Còn nói Thất tổ gồm có: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ. Song có điều, riêng tôi vẫn còn thắc mắc thật sự chưa hiểu rõ: nếu chúng ta thờ cửu huyền trải qua chín đời như thế, thì thờ 4 đời trở lên không có gì phải nói. Nhưng nếu tính từ đời mình trở xuống mà thờ, thì thú thật tôi không thể hiểu được. Ở đây, tôi không dám cho việc thờ nầy là phi lý, vì tôi vẫn luôn tôn trọng ý tưởng đặt định của người xưa. Nhưng tôi rất thắc mắc về việc thờ phụng nầy. Vì chả lẽ mình lại thờ mình và thờ con cháu mình. Thậm chí, mình chưa có chắt, chít, thì lấy đâu mà thờ?
Thông thường, ở trong các gia đình người Việt chúng ta, chúng tôi chỉ thấy phần nhiều người ta chỉ thiết lập bàn thờ tổ tiên, ông bà, chớ ít có ai viết chữ để là thờ Cửu huyền Thất tổ. Bốn chữ nầy, chúng tôi thấy trong quyển sách: “Sự Lý Dung Thông” bằng chữ Hán của Thiền sư Hương Hải và được Tiến sĩ Lê Mạnh Thát đã dầy công biên khảo và dịch lại, cho in chung trong Toàn Tập Minh Châu Hương Hải (Nhà Xuất bản TP. HCM, 2000) . Trong đó có hai câu thơ:
Thích độ nhân miễn tam đồ khổ
Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương.
Ý nói giáo lý của đức Phật Thích Ca nhằm hóa độ chúng sanh thoát khỏi ba đường khổ: địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh, đồng thời, cũng có khả năng cứu thoát cửu huyền thất tổ được siêu thăng. Ngoài ra, chúng tôi không còn thấy ở chỗ nào khác. Có thể là do sự tra cứu học hỏi của chúng tôi còn nông cạn hạn hẹp. Vấn đề nầy, xin được miễn bàn thêm, vì không phải lý do nghiên cứu ở đây. Chúng tôi chỉ xin nêu ra giải thích đôi điều để cho Phật tử biết sơ qua về cửu huyền thất tổ có liên quan đến việc thờ phụng mà Phật tử đã hỏi, thế thôi.
Tóm lại, tôi xin góp ý đề nghị với Phật tử, nếu như Phật tử muốn thờ, thì nên hỏi qua ý kiến cha mẹ của Phật tử trước. Thử xem ông bà nói sao. Sau đó, Phật tử mới có quyết định. Như thế, thiết nghĩ cũng không phải là muộn và như thế sẽ được thuận thảo tốt đẹp cả hai. Phật tử không nên nghe người ta bày ra rồi mình tự động làm theo. Một việc làm mà mình không hiểu rõ ý nghĩa của việc mình làm, chỉ thấy xưa bày nay bắt chước, thì điều đó cũng không đúng lắm. Kính chúc Phật tử chóng đạt thành sở nguyện.

Toát Yếu Kinh Trung Bộ (Bộ 3 Tập ) - HT Minh Châu - NS Trí Hải Dịch
Pali Căn Bản - Thích Nữ Tịnh Vân Dịch
Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc - HT Thanh Kiểm
Phật Pháp Và Khoa Học - HT Duy Lực Dịch
Nam Tuyền Ngữ Lục Và Bửu Tạng Luận - HT Duy Lực Dịch
Thiền Và Bát Nhã - HT Tuệ Sỹ
Danh Từ Thiền Học Chú Giải - HT Duy Lực
Triệu Luận Lược Giải - HT Duy Lực Dịch
Đại Tạng Kinh Việt Nam ( Bộ 37 Tập - Nykaya Và A Hàm ) - HT Minh Châu - HT Thiện Siêu Dịch
Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa - HT Thanh Từ
Kinh Lương Hoàng Sám - HT Thích Viên Giác Dịch - HT Trí Tịnh Giảo Chính
Nguồn Thiền Giảng Giải - HT Thanh Từ
Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải - HT Thanh Từ
Chết Có Thật Đáng Sợ Không - TT Thích Tâm Quang Dịch
Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân - HT Chính Tiến - HT Quảng Độ Dịch
Phật Pháp Với Thiền Tông - HT Duy Lực
Kinh Vô Lượng Thọ - HT Tuệ Đăng Dịch
Bộ Phái Phật Giáo Và A Tỳ Đạt Ma - TT Thích Hạnh Bình Dịch
Góp Nhặt Lời Phật Tổ Và Thánh Hiền - HT Duy Lực Dịch
Lịch Sử Tư Tưởng Phật Học Trung Quốc - TT Thích Hạnh Bình Dịch
Duy Lực Ngữ Lục ( Bộ 2 Tập ) - HT Duy Lực
Kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni - HT Thiền Tâm Dịch
Nghiên Cứu Về Các Luận Sư Và Các Tác Phẩm Của Phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ - ĐS Ấn Thuận - TT Thích Hạnh Bình Dịch
Kinh Di Đà Hợp Giải - Như Hòa Dịch
Kinh A Di Đà Sớ Sao Diễn Nghĩa ( Bộ 9 Tập ) - HT Tịnh Không
Liên Tông Thập Tam Tổ - HT Thiền Tâm Dịch
Mấy Điệu Sen Thanh ( Bộ 2 Tập ) - HT Thiền Tâm Dịch
Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa
Tham Thiền Phổ Thuyết - HT Duy Lực Dịch
Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký ( Bộ 2 Tập ) - HT Tịnh Không
Kinh Bi Hoa - Nguyễn Minh Tiến Dịch
Hỏi Đáp Trợ Niệm Khi Lâm Chung - HT Tịnh Không
Khuyên Người Niệm Phật ( Bộ 4 Tập ) - Cs Diệu Âm
Kinh Pháp Hoa - Phẩm Phổ Môn Lược Giảng - HT Tuyên Hóa
Việt Nam Phật Giáo Sử Luận - Gs Nguyễn Lang