Tiểu Sử
Hành Trạng
1. Thiền sư Khắc Cần ở Chiêu giác. Thiền sư Khắc Cần - Phật Quả ở chùa Chiêu giác tại phủ Thành đô. Vốn người dòng họ Lạc ở Bành châu, gia đình Sư nhiều đời kính sùng Nho giáo. Từ thủa thơ bé, mỗi ngày Sư đọc nhớ cả ngàn lời, chợt đến tham quan chùa Diệu tịch, thấy kinh sách Phật, ba lần trở về Sư buồn bã như được vật xưa cũ, tự bảo là: “Tôi ngờ trong quá khứ từng làm Sa-môn vậy”. Sư bèn bỏ gia đình nương theo tự tỉnh mà xuống tóc xuất gia, Sư lại nương theo Sa-môn Văn Chiếu mà thông rành giảng thuyết, lại theo Sa-môn Mẫn Hạnh mà được truyền trao cho kinh Lăng Nghiêm. Bỗng chốc Sư cảm mắc bệnh đến nỗi sắp chết, mới tự than rằng: “Ðường chánh Niết-bàn của chư Phật chẳng ở trong văn cú. Tôi vì muốn dùng tiếng để cầu, dùng sắc để thấy, nên đó không lấy làm chết vậy”. Sư bèn giã từ đó, đến nương tựa nơi pháp tịch của Thiền sư Thắng ở Chân giác, Thiền sư Thắng chích cánh tay ra máu mà chỉ cho Sư và bảo: “Ðây là một giọt của Tào Khê vậy”. Sư kinh sợ, ngưng giây lát mới nói: “Ðạo hẳn như vậy ư?” Và liền dời bước ra đất Thục đến bái yết Thiền sư Hạo ở Ngọc tuyền, tiếp đến nương tựa Thiền sư Tín ở Kim loan, Thiền sư Triết ở Ðại quy, Thiền sư Tâm ở Hoàng long, Thiền sư Ðộ ở Ðông lâm. Các vị ấy đều chỉ Sư và bảo là Pháp khí và Thiền sư Hối đường xưng gọi Sư là “Ngày sau một phái Lâm Tế riêng tại nơi con vậy”. Cuối cùng, Sư đến bái yết Thiền sư Diễn ở Ngũ tổ, dốc hết cơ dụng mà Thiền sư Diễn vẫn không chấp thuận, Sư mới nói Thiền sư Diễn là gượng đổi thay người”. Thiền sư Diễn vẫn không theo lời, Sư bèn tức giận mà bỏ đi. Thiền sư Diễn bảo: “Ðợi ông dính một chút bệnh nóng, lúc đánh mới nghĩ lường đến ta”. Sư đến Kim lăng hái củi, cảm mắc bệnh thương hàn rất lắm, lấy điều thấy của ngày bình thường mà thử đó nhưng không đắc lực, mới nghĩ gỡ lời của Thiền sư Diễn, bèn tự phát lời thề rằng: “Bệnh tôi được thuyên giảm chút ít tức sẽ trở về Ngũ tổ”. Khi bệnh có phần giảm bớt, Sư tìm trở về. Thiền sư Diễn trông thấy Sư, vui mừng mà bảo Sư vào tham đường. Sư bèn vào theo hầu trong Liêu mới được nửa tháng gặp bộ Sứ giả mở ấn trở về đất Thục, đến ngũ Tổ hỏi Ðạo. Thiền sư Diễn bảo: “Thủa thiếu niên Ðề Hình từng đọc thơ Tiểu Diễm chăng? Trong đó có hai câu rất gần nhau là “Tằng gọi Tiểu Ngọc vốn vô sự, chỉ cần Ðàn Lang nhận được tiếng”. Ðề Hình liền ứng tiếng thưa: “Kính vâng”. Thiền sư Diễn bảo: “Hãy nên tử tế”. Sư vừa về đứng hầu lần sau đó mới hỏi là: “Nghe Hòa thượng nêu cử thơ Tiểu Diễm, Ðề Hình có hiểu được chăng?” Thiền sư Diễn bảo: “Kia đã nhận được tiếng”. Sư thưa: “Chỉ cần Ðàng Lang nhận được tiếng, mà kia đã nhận được tiếng, lại vì gì tức chẳng phải?” Thiền sư Diễn hỏi: “Thế nào là đại ý của Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại? Hình dáng cây bách trước sân?” bỗng nhiên Sư có chút tỉnh ngộ. Vội đi ra, thấy gà bay trên lan can cổ vũ mà kêu, lại tự cho là: “Ðây há chẳng phải là tiếng?” Bèn tụ hương vào thất, thông rành điều chứng đạt, mới trình kệ tụng rằng: “Hương kim giáp tiêu màn gấm lụa, sênh ca trong rừng say đổ về, tuổi trẻ một việc phong lưu, chỉ hẹn người đẹp riêng tự biết”. Thiền sư Diễn bảo: “Việc lớn của Phật tổ thì hàng tiểu căn lực kém không thể đến được. Ta giúp cho ông được tốt lành vậy”. Và Thiền sư Diễn nói cùng khắp các bậc kỳ cựu trong núi là: “Thị giả của ta tham đã đắc Thiền vậy”. Từ đó, phàm đến đâu, mọi người đều suy xưng Sư là Thượng thủ. Trong khoảng niên hiệu Sùng Ninh (1102-1107) thời Bắc Tống, Sư trở về quê nhà, bốn chúng đều đua nhau ra kính bái. Thành đô soái Hàng lâm Quách Công Tri Chương thỉnh mời sư khai đường giảng pháp ở Lục tổ, lại ở Chiêu giác. Ðến trong khoảng niên hiệu Chánh Hòa (1111-1118) thời Bắc Tống, Sư từ tạ mọi sự ở đó, ra đường núi theo hướng Nam vân du. Bấy giờ, Trương Vô Tận đang ngụ ở kinh Nam, dùng đạo học tự sống, ít thấy suy hứa. Sư men thuyền con đến đó ra mắt, cùng nhau kịch liệt đàm nói về yếu chỉ của kinh Hoa Nghiêm rằng: “Với Hoa Nghiêm, cảnh giới hiện lượng, lý sự toàn chân, mới đầu không một mảy may gá pháp. Do đó tực một mà gồm cả muôn, rõ muôn mà một, một lại một, muôn lại muôn, rõ ràng chẳng cùng, tâm, Phật, chúng sinh cả ba vốn không sai biệt, co duỗi tự tại, vô ngại viên dung. Ðó tuy là khuôn phép rốt cùng, nhưng trọn là không gió mà sóng dập nổi quanh”. Khi ấy Trương Vô Tận bất chợt xúc chạm vào giường, Sư bèn hỏi là: “Ðến đây cùng với ý của Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại là đồng hay khác?” Trương Vô Tận đáp: “Ðồng vậy”. Sư bảo: “Tạm bị chìm dắm giao thiệp”. Trương Vô Tận tỏ vẻ lấy làm giận. Sư bảo: “Há chẳng thấy Vân Môn nói: “Núi sông đại địa không mảy may, quá hoạn còn là chuyển câu. Ngay như được chẳng thấy một sắc mới là một nửa nâng dắt. Lại phải biết có hướng thượng nâng dắt toàn bộ thời tiết. Kia, như Ðức Sơn, Lâm Tế há chẳng nâng dắt toàn bộ ư?” Trương Vô Tận mới gật đầu vâng chịu. Qua ngày sau, lại nêu cử về Sự pháp giới và Lý pháp giới cho đến Lý Sư vô ngại pháp giới, Sư mới hỏi: “Ðây có thể nói Thiền ư?” Trương Vô Tận đáp: “Chánh khéo nói Thiền vậy”. Sư cười bảo: “Chẳng vậy, chánh phải ở trong lượng pháp giới, bởi lượng pháp giới chưa diệt. Nếu đến sự sự vô ngại pháp giới thì lượng pháp giới diệt, mới khéo nói Thiền. Thế nào là Phật tức chuồng phẩn khô, thế nào là Phật tức ba cân gai? Cho nên chân tịnh có lời kệ rằng: “Sự sự vô ngại, Như ý tự tại, tay nắm đầu heo miệng tụng Tịnh giới, rảo ra phòng dâm chưa vào quán rượu, đầu đường ngã tư mở bày đãy vải”. Trương Vô Tận nói: “Luận tốt lành thay! Ðâu để được nghe ư?” Từ đó, chuyên lấy lễ tôn xưng Sư làm thầy, lưu giữ mời Sư dừng ở tại Bích nham. Sau đó, Sư lại chuyển dời đến ở Ðạo lâm, xu mật Ðặng Công Tử thường tấu trình ban tặng pháp phục sắc tía cho Sư và phong tặng Sư hiệu. Lại có chiếu ban thỉnh mời Sư đến ở Tương sơn - Kim lăng, các học giả đua nhau kéo đến không đất dung thân. Lại có sắc ban bổ nhậm Thiên ninh, Vạn thọ. Nhà vua thỉnh mời rất mến quý đượm nhuần. Ðến đầu niên hiệu Kiến Viêm (1127) thời Nam Tống, Sư lại chuyển dời đến ở Kim sơn. Vừa xa giá đến Duy dương, vào phong sắc Thiền sư Viên Ngộ cải đổi Vân cư. Lâu sau, Sư lại nhận lãnh Chiêu giác. Có vị Tăng hỏi: “Vân Môn nói về núi Tu-di, ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Suy chẳng hướng tới trước, ước chẳng thối lui sau”. Lại hỏi: “Chưa xét rõ lại có qua không?” Sư đáp: “Ngồi ngay đầu lưỡi”. Lại hỏi: “Pháp không có khởi, gá cảnh mới sinh”. Và đưa tọa cụ lên, bảo: “Cái này là cảnh, cái nào là pháp?” Sư đáp: “Tức bị xà-lê đoạt ngay cái chỏ”. Lại hỏi: “Người xưa nói: “Lang lật vát ngang chẳng nhìn người, thẳng vào ngàn núi muôn núi đi. Chưa xét rõ trong nào là nơi trú xứ của kia?” Sư đáp: “Rắn mình dây buộc chân đường trải nhiễu quanh thân”. Lại nói: “Sáng nhìn mây từng mảnh, chiều nghe nước róc rách”. Sư bảo: “Tức phải cắt đứt mới được”. Lại nói: “Hồi nãy chẳng phải mộng, thật cái đến Lô Sơn”. Sư bảo: “Dáng mắt cao”. Lại hỏi: “Vượn ôm con về sau núi xanh, chim ngậm hoa rơi trước hang biếc, đó là nơi thời xưa Thái tử an thân lập mạng. Vậy thế nào là cảnh Ðạo lâm?” Sư đáp: “Cửa chùa mở cao Ðộng đình trống rỗng, chân điện kéo vào hồ cát đỏ”. Lại hỏi: “Thế nào là người trong cảnh?” Sư đáp: “Tăng bảo mỗi người là châu ngọc biển xanh”. Lại hỏi: “Ðó là Ðổ công bộ đến cùng, làm gì sống là Hòa thượng đến cùng?” Sư đáp: “Hãy chớ nói loạn”. Lại hỏi: “Thế nào là đoạt người, không đoạt cảnh?” Sư đáp: “Sơn Tăng có mắt chẳng từng thấy”. Lại hỏi: “Thế nào là đoạt cảnh, không đoạt người?” Sư đáp: “Xà-lê hỏi được tự nhiên gần”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh đều đoạt?” Sư đáp: “Thâu gom”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh đều chẳng đoạt?” Sư đáp: “Buông thả”. Lại hỏi: “Câu có câu không, như dây deo tựa cây, thế nào là được thấu thoát?” Sư đáp: “Cậy kiếm thiên trường bức người lạnh”. Lại hỏi: “Chỉ như cây ngã dây leo khô, Quy sơn vì gì cười lớn ha ha?” Sư đáp: “Mến kia đến cùng, dính kia đến cùng”. Lại hỏi: “Bỗng nhiên bị người học xốc ngã thiền sàn, bẻ gãy cây gậy chống, lại làm cái gì kỹ lưỡng?” Sư đáp: “Cũng là sau khi giặc chạy qua mới trương cung tên”. Lại hỏi: “Sáng rõ ràng, bày rành rành, vì gì càn khôn gom chẳng được?” Sư đáp: “Kim cang trong tay tám lăng gậy”. Lại hỏi: “Bỗng nhiên một tiếng gọi bèn xoay trở lại ngay được sống không?” Sư đáp: “Thu Tử, Mục Liên còn không biết làm sao?” Lại hỏi: “Chẳng rơi lạc chiếu, chẳng rơi lạc dụng, thương lượng như thế nào?” Sư đáp: “Buông xuống đầu mây”. Lại hỏi: “Bỗng lúc gặp người trong đó lại như thế nào?” Sư đáp: “Cưỡi điện Phật ra cửa núi”. Lại hỏi: “Muôn tượng chẳng lại, hắn riêng nói, dạy ai vẫy tay lên núi cao?” Sư đáp: “Ðặt xuống danh ngôn”. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thông thân là mắt thấy chẳng kịp, thông thân là tai nghe chẳng suốt, thông thân là miệng nói chẳng nhằm, thông thân là tâm soi chẳng ra. Ngay như hết cả đại địa rõ được không mảy may thấu lọt, còn ở nửa đường, cứ khiến nâng dứt toàn bộ. Hãy nói thế nào là Triển diễn? Nhật nguyệt trong vức treo ngang dọc, một khoảng trời tạnh xuân muôn xưa”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðầu núi vẫy sóng, đáy giếng tung bụi, mắt nghe tợ sấm sét chấn động, tai nhìn như dàn trải gấm lụa, ba trăm sáu mươi cốt tiết, mỗi mỗi hiện vô biên diệu thân, tám vạn bốn ngàn mảy lông mỗi buổi rõ bày bảo vương sát hải. Chẳng là thần thông diệu dụng, cũng chẳng là pháp nhĩ như thị, nếu hay ngàn mắt chóng mở, thật là mười phương tuyệt dứt. Vả lại, một câu siêu nhiên riêng thoát làm sao sống? Nói, thử ngọc phải qua lửa, tìm châu chẳng tìm bùn”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Xưa nay không hình , nào lại có môi mép, đặt đất rộng xưng dương, khen kia nói đạo lý. Hãy nói kia là ai?” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Trước mười lăm ngày cả ngàn con trâu kéo chẳng lui, sau mười lăm ngày, chim cốt tài giỏi đuổi chẳng kịp. Chánh ngay trong mười lăm ngày, trời bình đất yên, đồng sáng đồng tối, Ðại thiên sa giới chẳng lìa khỏi đương xứ. Có thể ngậm nhả mười hư, tiến tới một bước siêu việt chẳng thể nói nước biển thơm, lùi một bước dứt ngay ngàn trùng muôn dặm mây trắng, chẳng tiến chẳng lùi chẳng nói Xà-lê, Lão Tăng cũng không nơi mở miệng”. Sư nâng cây phất trần lên, tiếp bảo: “Chánh ngay lúc này thì thế nào? Có lúc nắm tại trên ngàn ngọn núi, đoạt dứt mây thu chẳng phóng cao”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Mười phương đồng tụ hội, xưa nay thân chẳng mê, mỗi mỗi học vô vi, trên đỉnh dùng kềm dùi. Ðây là trường tuyện chọn Phật, sâu rộng chớ thể lường, Tâm không đỗ đạt về, kiếm bén chẳng như dùi, lười cư sĩ Bàng chống, miệng trời Phạm Thiên ngậm bốn biển. Có lúc đem một cành cỏ làm thân vàng ròng trượng sau, có lúc đem thân vàng ròng trượng sáu làm một cành cỏ. Rất là kỳ đặc. Tuy là như vậy, cốt yếu lại phải chớ động nhằm cửa hướng thượng. Vả lại, thế nào là cửa hướng thượng? Ðúc ấn đắp đàn cao”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Câu có câu không vượt tông vượt cách, như dây leo tựa cây núi bạc vách sắt, cho đến lúc cây ngã, dây leo khô, ít nhiều người mất ngay lỗ mũi. Ngay như gom nhặt được lại đã là ngàn dặm muôn dặm, chỉ như lúc chưa có nghĩ tin tức gì. Thế nào? Có thấu được chăng? Gió ấm chim kêu vỡ vụn, mặt nhật lên cao hoa cạnh đậm”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Câu thứ nhất cử tiến được Tổ sư xin mạng, câu thứ hai cử tiến được người trời trông nhìn rơi, câu thứ ba cử tiến được miệng hổ cắn ngang thân. Chẳng là theo đường giữ vết, cũng chẳng phải đổi vết dời đường. Thấu được thì sáu tay ba đầu, Chưa thấu cũng là nơi nhân gian và trên trời. Vả lại, ngoài ba câu ấy, một câu làm sao sống? Nói. Bờ sống chỉ ở trên ty luân, trăng sáng thuyền con trôi ngũ hổ”. Sư chỉ dạy đại chúng rằng: “Một lời chấm dứt, ngàn Thánh mất tiếng, một kiếm đương đầu, phanh thây muôn dặm. Do dó nói, có lúc câu đến, ý chẳng đến, có lúc ý đến câu chẳng đến. Câu hay cắt ý, ý hay cắt câu, ý câu giao nhau, lỗ mũi Nạp Tăng. Nếu hay nghĩ gì chuyển đi thì trời xanh cũng phải ăn gậy. Hãy nói nhờ cái gì có thể xót thương vô hạng với người đùa sóng? Rốt cùng lại rơi lạc chết trong sóng”. Có lúc Sư lại chỉ dạy đại chúng: “Ðầu vực ngàn nhận buông tay, cần phải người đó, cung nỏ ngàn cân phát có đâu ví đàn chuột, Vân Môn mục châu ngay mặt ngã qua, Ðức Sơn Lâm Tế cuồng dối xóm làng. Ngoài ra, lập cảnh lập cơ làm ổ làm hang, nên phải diệt chủng tộc người Hồ. Vả lại, một câu riêng thoát làm sao sống? Nói. Muôn duyên biến đổi lẫn lộn nhàn sự. Phòng núi tháng năm lạnh tợ băng”. Ðến tháng tám năm Thiệu Hưng thứ năm (1135) thời Nam Tống, Sư hiện tướng cảm mắc chút bệnh, ngồi kiết già viết kệ tụng lưu lại cho đại chúng xong, ném bút mà thị tịch. Sau khi trà tỳ, chiếc lưỡi và răng không hoại rã, có vô số xá-lợi năm sắc, dựng tháp an táng bên cạnh chùa Chiêu giác, truy phong Sư thụy hiệu là “Chân giác Thiền sư”.
