TS Tuệ Nhẫn Quán Viên

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Tuệ Nhẫn Quán Viên - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm -
Sanh#1Năm Sanh1257
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTS Trúc Lâm Đầu Đà - Đời Thứ 6 Dòng Yên Tử - Khai Tổ Dòng Trúc Lâm
Đồng Môn ♂️ TS Thiện Lai Pháp Loa - Đời Thứ 7 Dòng Yên Tử - Nhị Tổ Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Pháp Cổ - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Bảo Phác - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Mật Tạng - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Bảo Sát - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Pháp Tràng - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Pháp Đăng - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Pháp Không - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Hương Tràng - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Hương Sơn - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm, ♂️ TS Huệ Nghiêm - Đời Thứ 2 Dòng Trúc Lâm
Tịch#1Viên Tịch1325

Hành Trạng

Quốc Sư Huệ Nhẫn Quán Viên
(1257 - 1325)

Quốc sư Huệ Nhẫn hiệu Quán Viên hay Huệ Vân, thường được gọi là “ông Mộng”hay Hòa thượng Đông Sơn, họ Vương (có sách viết tên là Mai Tú Phụng), sinh năm Đinh Tỵ (1257), quê ở xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương).
Sư mồ côi cha từ nhỏ, mẹ ở vậy nuôi con. Năm 10 tuổi sư đã rất ham học, chịu khắc khổ để lo học, đọc nhiều sách.
Năm 19 tuổi (1275), sư hiểu được cuộc đời là khổ não, vô thường nên xuất gia cầu đạo để tìm đường giải thoát. Sư đến quy y thọ giới với Đại sư Kiên Huệ (Kiên Tuệ) ở chùa Báo Ân (xã An Chiếu, huyện Tiên Lữ, trấn Sơn Nam, nay là huyện Phù Tiên, tỉnh Hưng Yên).
Sư thọ giới Cụ túc với hai Thiền sư Nghĩa Trụ và Chân Giám, giới hạnh tinh nghiêm, giỏi về Luận tạng, sau trụ trì chùa Báo Ân. Một thời gian sau, sư chán cảnh chùa Báo Ân gần thành thị, ồn ào náo nhiệt, nên về trụ trì chùa Đông Sơn (làng Bích Nham?).
Trong thời gian mấy chục năm ở chùa Đông Sơn, sư không hề xuống núi, nghiêm trì giới luật, chuyên tham học kinh sách và thiền định nên tuệ giải viên dung.
Vào thời vua Trần Anh Tông (1293 - 1314), vua bị bệnh đau mắt, ngày đêm mắt bị chói và nhức, các quan ngự y tận lực tìm phương chữa trị cả tháng vẫn không biết. Bỗng một đêm vua nằm mộng thấy một vị sư đến lấy tay xoa vào mắt. Vua hỏi:
- Sư pháp danh là gì, từ đâu đến?.
Sư đáp:
- Bần tăng là Quán Viên, đến chữa trị mắt cho Hoàng thượng.
Tỉnh mộng thức dậy, mắt vua hết đau. Qua ngày sau thì mắt hết hẳn. Vua cho các quan trong triều tìm hỏi trong giới thiền lâm để xem sư Quán Viên ở chùa nào? Sau khi biết được là có Thiền sư Quán Viên ở chùa Đông Sơn, vua sai quan cận thần đến mời Thiền sư Quán Viên về triều, vua thấy sư giống y như vị sư trong giấc mộng; vua lấy làm lạ, thăm hỏi vài điều về Phật pháp, vua hết sức kính phục nên phong cho Thiền sư Quán Viên là “Đại thánh Huệ Nhẫn - Từ Giác Quốc sư”, ban thưởng rất trọng hậu. Quốc sư Huệ Nhẫn đem phân phát hết tất cả những vật mà vua ban cho, không giữ một món gì hay một đồng tiền nào cả, cứ mặc áo tràng vá cũ về núi, không bận tâm gì cả.
Từ đó về sau, Quốc sư Huệ Nhẫn đi vân du hoằng hoá khắp nơi, từ làng mạc thôn quê, đến rừng núi hẻo lánh hay thị thành, châu huyện... hễ gặp miếu thờ thần không chánh đáng (dâm thần, tà thần) làm hại dân, sư đều quở trách, đập phá đền miếu và đuổi đi. Còn những vị thần chân chính linh thiêng hoặc những vị thần còn nóng tánh ưa quở phạt dân chúng... phần nhiều hiển hiện hay báo mộng, ra đón từ ngoài miếu để cầu Quốc sư thọ nhận cho quy y. Quốc sư làm lễ thọ giới cho, bảo các vị đó phải phù hộ cho dân, giảm bớt cúng tế, không vị nào dám xúc phạm. Người thời đó về sau đều nhớ ơn Quốc sư. Điều này có thể cho ta biết được là Quốc sư Huệ Nhẫn thuộc phái thiền Trúc Lâm (làm giống như Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông).
Vua Trần Anh Tông cũng rất kính trọng Quốc sư, không dám gọi tên mà gọi là “Viên công”. Vua thường nói: “Viên công là Lão Tăng đạo cao đức trọng, thế gian hiếm có”. (Sự tích trên được Hồ Nguyên Trừng ghi lại trong sách “Nam Ông Mộng Lục”).
Ngoài ra, sự tích của Quốc sư Huệ Nhẫn còn đuợc ghi lại trong bia “Quang Khánh Tự Bi Minh Tịnh Tự” ở chùa Quang Khánh, xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương). Bia khổ 80 x 122 cm, khắc một mặt, chạm lưỡng long triều nguyệt, hình chú tiểu đóng khố, hai tay nâng mặt trăng, hai bên chạm hoa chim. Bia do tiến sĩ Phạm Cảnh Chiêu, đậu khoa Đinh Mùi (1487), làm Thượng thư Bộ Lại soạn; Bùi Hồ Hạ Khanh viết chữ, Vũ Đình Đỗ khắc chữ.
Vào năm Quang Thiệu (1516-1522), đời vua Lê Ý Tông, các đại sĩ Phúc Lâm, Phúc Chính, Phúc Nguyên... cùng thiện tín xây dựng am và tượng thờ Quốc sư Huệ Nhẫn ở chùa Bảo Tích (hay chùa Diệu Phúc), xã Phi Gia, huyện Kim Thành, trấn Hải Dương.
Năm Quảng Hòa 2 (1542), đại sĩ Đồng An, tự là Quang Lư, soạn bia “Huệ Vân Phật tọa bi ký” để ghi công đức.

---o0o---

Chùa Quang Khánh

Chùa Quang Khánh, tục gọi là chùa Mông, ở xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Kim Mông, tỉnh Hải Dương).
Chùa Quang Khánh không biết được xây dựng từ đời nào? Chùa nổi tiếng là vì chùa là nơi quê nhà của ông “Mộng” hay Quốc sư “Huệ Nhẫn” (Thiền sư Quán Viên) đã trị bệnh cho vua Trần Minh Tông trong giấc mộng. Vua Trần Minh Tông cho xây dựng lại chùa.
Từ đó chùa trở thành danh lam cổ tích của trấn Hải Dương và là thắng cảnh của đất nước.
Nhưng sau khi nhà Trần mất ngôi (năm 1400), chùa Quang Khánh bị suy hoại dần theo sư sụp đổ của phái thiền Trúc Lâm và sự suy thoái của Phật giáo.
Đến đầu triều đại Lê Thánh Tông (1460-1497), chùa Quang Khánh đã trở thành hoang sơ tiêu điều. Tuy nhiên, các thiền sư trụ trì vẫn âm thầm tiếp nối ngọn đèn pháp của phái thiền Trúc Lâm, noi theo gương xưa của Quốc sư Huệ Nhẫn, chùa vẫn còn những cao tăng tu hành khổ hạnh, sống bình dị hòa đồng trong thế tục, khiêm nhường góp phần vào việc phổ độ chúng sinh. Vì vậy chùa tuy hư hoại nhưng vẫn là một chùa nổi tiếng, năm Quang Thuận 6 (1465), vua Lê Thánh Tông (Thiên Nam động chủ) đến viếng chùa vẫn ca ngơị cảnh đẹp thiên nhiên của chùa Quang Khánh, và quan trọng hơn nữa, vua là bậc bác học, đa văn mà vẫn phải kính trọng đạo hạnh cao thâm của vị sư trụ trì, vua cho khắc vào đá một bài thơ do vua sáng tác, sau ghi vào trong tập thơ “Chân cơ thắng thưởng” tức là những vầng thơ quý đẹp như châu báu ca ngợi cảnh đẹp nổi tiếng với tựa đề là “Ngự chế tu mộng tự trị khắc” (trong sách Toàn Việt thi lục, Bùi Huy Bích đề tựa là “Đề Quang Khánh tự”) như sau:
Kê điền đống vũ bán tồi khuynh
Tát đỏa huề dư phỏng Hóa thành
Đại giác hóa trung quân dị độ
Vô cùng môn lý ngã nan hành.
Ngũ viên trạm trạm nguyên phi sắc
Lục độ trùng trùng diệc hữu tình.
Mảnh tình tối phi đổ thủ khách
Bàng nhẫn thận vật thuyết tam sinh.
Tạm dịch:
Chùa cũ hoang sơ đã nửa phần
Thử hỏi Thiền sư cảnh hóa thành
Dễ dàng thầy vượt qua bờ giác
Vất vả tôi đi giữa cõi trần.
Ngũ viễn vằng vặc vốn không sắc
Lục độ ngời sáng với hữu tình.
Chạy theo “phải, trái”, nay bừng tỉnh
Thiền sư cẩn trọng chẳng thuyết phân.
Năm Bính Ngọ (1486), vua Lê Thánh Tông lại viếng chùa sáng tác bài Thơ chữ Nôm”Ngự đề Quang Khánh tự “(Vua vịnh chùa Quang Khánh), ca ngợi thiền lâm Quang Khánh như sau:
Dắng dõi chào ai tiếng pháp chung
Ngang đây thoắt lộ chạnh bên dòng.
Trừng thanh lẽo lẽo trần kỳ cách
Gác thẳm làu làu ngọc giá đông
Sực nức đưa hoa hương mượn gió
Líu lo chào khách vẹt thay đồng
Nhủ đoàn tự đắc ngao du đấy
Cho biết cơ màu vẫn chẳng vong.
(Từ bài thơ này, đến thế kỷ 20, nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (con của thi hào Nguyễn Đình Chiểu), là chủ bút tờ tuần báo “Nữ giới chung” ở Sài Gòn, đã cảm tác bài thơ sau:)
Dăng dẳng xa gần tiếng pháp chung
Tình đời ấm lạnh đã nguôi lòng.
Âm thanh thăm thẳm trần ai lặng
Gác tịnh làu làu ngọc gía đông.
Cánh cửa từ bi nương phận bạc
Mảnh gương tế độ nhuốm màu hồng
Trời Tây bể khổ thêm ngao ngán
Tỉnh giấc hoàn lương nguyệt nửa vòng.
Vào niên hiệu Vĩnh Thọ (1658-1661), đời vua Lê Thần Tông, các vương phi, quận chúa, các quan viên và dân chúng trong làng đã trùng tu lại chùa Quang Khánh và tô lại tượng của Quốc sư Huệ Nhẫn (ông Mộng ) thờ ở chùa.
Ở chùa Quang Khánh ngày xưa có cầu Hạ Gia, nhưng trải qua chiến tranh và thời gian, cầu bị hư hỏng, ngày 25 tháng 12 năm Ất Tỵ (1665) các quan viên và dân chúng địa phương đã cùng nhau lo xây dựng lại cầu và hoàn thành vào ngày 14 tháng 2 năm Bính Ngọ (1666).
Nhờ các bia và các tháp còn lại ở chùa Quang Khánh, chúng ta có thể biết được một số thiền sư hoằng hóa ở chùa này như sau:

---o0o---

Các Thiền Sư Hoằng Hóa Ở Chùa Quang Khánh

Từ sau khi Quốc sư Huệ Nhẫn hay Ông Mộng viên tịch (1325) cho đến đầu thời Hậu Lê, chúng ta không biết được truyền thừa ở chùa Quang Khánh vì tài liệu không còn.
Mãi đến thời Lê Trung hưng, chúng ta mới có tài liệu để biết đại cương về sự truyền thừa và hành trạng của các thiền sư hoằng hóa ở chùa như sau:
- Vào cuối thế kỷ thứ 17, Thiền sư Như Văn, đệ tử của Thiền sư Chân Hiền ở chùa Hoa Yên (Vân Yên) trên núi Yên Tử về trụ trì chùa Quang Khánh. Năm Quý Mão (1723), Thiền sư Như Văn viên tịch ở chùa.
- Kế thế trụ trì chùa tiếp theo đó là Thiền sư Như Nhàn. Thiền sư Như Nhàn (là sư đệ của Như Văn), sinh năm Ất Mùi (1655) và tịch vào năm Giáp Thìn (1724) đời vua Lê Dụ Tông, thọ 70 tuổi.
- Sau khi Thiền sư Như Nhàn viên tịch, thiền sư Tánh Khoát-Thích Trừng Trừng (1685-1741) kế thế trụ trì cho đến ngày viên tịch.
Trong thời gian trên, chiến tranh xảy ra, hoàn cảnh kinh tế địa phương nghèo kém nên đồ chúng chỉ chôn cất tạm, mãi đến năm Đinh Sửu (1757), Thiền sư Tánh Quảng-Thích Điều Điều cùng Hải Phạn và Hải Luật-Quýnh Quýnh mới trùng tu lại chùa và xây tháp thờ các vị trên.
- Sau khi Thiền sư Tánh Khoát viên tịch, thay thế trụ trì chùa Quang Khánh là thiền sư Tánh Y-Thích Hạo Hạo.
- Tiếp theo đó là Thiền sư Hải Luật-Thích Quýnh Quýnh (đệ tử của Thiền sư Tánh Quảng-Thích Điều Điều ở viện Thiền Phong, trên núi Tử Phong).

This entry was posted in . Bookmark the permalink.