TS Trúc Đạo Sanh

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Trúc Đạo Sanh -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTS Cưu Ma La Thập - Khai Tổ Thành Thật Tông Trung Hoa
Đồng Môn ♂️ TS Tăng Dực, ♂️ 0-TS Tuệ Tuân, ♂️ 0-TS Tăng Tung, ♂️ TS Tăng Nghiệp, ♂️ 0-TS Tăng Giai, ♂️ TS Đạo Ôn, ♂️ 0-TS Tăng Nhàn, ♂️ TS Tăng Đạo, ♂️ TS Đàm Vô Thành, ♂️ TS Tuệ An, ♂️ TS Đàm Giám, ♂️ TS Tăng Bao, ♂️ TS Tăng Bật, ♂️ TS Tuệ Quán, ♂️ TS Tuệ Nghiêm, ♂️ TS Tuệ Duệ, ♂️ TS Tăng Triệu, ♂️ 0-TS Đạo Tiêu, ♂️ TS Đạo Hằng, ♂️ TS Tăng Duệ, ♂️ TS Đàm Ảnh, ♂️ 0-TS Pháp Khâm, ♂️ 0-TS Tăng Tiên, ♂️ TS Đạo Dung, ♂️ 0-TS Tăng Lược, ♂️ 0-TS Tăng Tuân
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ TS Đạo Du, ♂️ 0-TS Đạo Hiền
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ TS Đạo Du

Hành Trạng

Trúc Đạo Sanh: Ngài Ðạo Sanh họ Ngụy người Cự Lộc, cư ngụ tại Bành Thành, gia tộc trải qua bao đời làm quan trong triều. Cha làm quan huyện Quảng Thích, được người dân trong làng tôn xưng là thiện nhân. Ðạo Sanh thuở nhỏ thông minh đỉnh ngộ, tuệ giải như thần. Cha Ngài biết con mình là bậc phi phàm nên rất mực thương yêu và quý trọng.

Sau này gặp được Trúc Pháp Thái liền bỏ tục quy y, xuất gia học Phật pháp, làm một bậc Sa-môn lỗi lạc, kỳ diệu, nghiên tầm sâu sắc, nghĩa câu thì tự khai mở. Cho nên trong những năm còn đi học mà đã thăng tòa thuyết pháp. Những lời vấn đáp biện luận trong sáng như ngọc châu. Dẫu cho những bậc học tăng và danh sĩ lỗi lạc đương thời cũng cùng lý hết lời nên không ai dám đối đáp. Ðến tuổi thọ giới cụ túc thì kiến giải càng thâm thúy hơn. Tánh tình trầm tĩnh, thần khí thanh cao hơn.

Ban đầu vào Lô Sơn ở ẩn bảy năm để tìm lại chí mình. Thường cho rằng chỗ cốt yếu của việc nhập đạo, tuệ giải là chính. Cho nên học hỏi xem xét tường tận các kinh điển. Vạn dặm theo thầy không nài khổ nhọc. Sau này cùng Tuệ Duệ, Tuệ Nghiêm cùng đến Trường An tham học, thọ giáo ngài La-thập. Tăng chúng trong vùng Quan Trung đều tôn xưng Ngài là bậc thần ngộ.

Sau trở về chùa Thanh Viên. Ngôi chùa này vốn là hoa viên của hoàng hậu Trứ thị vào đời Tấn lập nên, cây cối trồng trong vườn xanh tốt nên đặt là thanh viên. Ðạo Sanh đương thời là bậc pháp tượng cho nên được vua thỉnh về chùa ấy. Thái tổ hoàng đế nhà Tống càng tỏ lòng tôn kính hơn. Thái tổ mở tiệc mời đích thân ông dự tiệc cùng chúng tăng ở sân đình. Thức ăn đã dọn ra một hồi lâu, chúng tăng đều nghĩ rằng giờ đã quá ngọ. Hoàng đế nói:

- Mới vừa đúng giữa trưa thôi.

Ðạo Sanh nói:

- Mặt trời đang đứng bóng, vua nói mới trưa thì đúng như vậy.

Nói xong Ðạo Sanh bèn bưng bát ăn, thế là đại chúng cùng ăn theo. Ai cũng khen Ngài cơ cảnh mẫn tiệp, thích ứng thời cơ mà xử lý sự tình. Các đạo sĩ như Vương Hoằng, Phạm Thái, Nhan Diên Chi đều kính ngưỡng phong thái của Ngài nên thường đến thỉnh vấn Phật pháp.

Ngài quán xét yếu đạo đã lâu, cuối cùng triệt ngộ được yếu chỉ kinh điển vượt ngoài ngôn ngữ nên tự than: ' Hình tượng nhờ biểu đạt tâm ý, được ý thì hình tượng không còn tồn tại. Ngôn ngữ dùng để diễn giải nghĩa lý, thể hội được nghĩa lý rồi thời cần gì hình thức câu nệ vào ngôn ngữ nữa ".

Từ khi Phật giáo được truyền vào Trung Quốc, kinh điển được phiên dịch rất nhiều, mà phần nhiều các nhà dịch thuật đa phần ngăn trệ nơi văn tự, nên ít ai thấy rõ nghĩa lý viên dung của Phật pháp, được cá quên nơm thì mới có thể khế hội liễu ngộ thật lý của Phật pháp. Do đó sau khi duyệt xem tất cả nội kinh ngoại điển, nghiên cứu kiểm thảo quan hệ nhân quả, ngài viết bộ Lập thiện không thọ nhận quả báo đốn ngộ thành Phật. Và trước tác các bộ luận Nhị Ðế Luận, Phật Tánh Ðương Hữu Luận, Pháp Thân Vô Sắc Luận, Phật Vô Tịnh Ðộ Luận, Ứng Hữu Duyên Luận v.v... đều tràn đầy bao lý lẽ và tuôn trào những ý chỉ thâm sâu. Song việc này dẫn đến sự chống đối, công kích liên tục của những người bảo thủ văn tự, vì hiềm rằng ngài Ðạo Sanh sửa đổi nghĩa lý kinh điển. Ðương thời kinh Ðại Niết-bàn chưa được truyền đến mà chỉ có sáu quyển Nê-hoàn kinh được truyền đến kinh sư.

Ngài Ðạo Sanh nghiên cứu tinh tường, phân tích tìm tòi trong các nghĩa lý của kinh văn, thâm nhập lý mầu, bèn đề xướng chủ trương “Người nhất-xiển-đề cũng có Phật tánh”. Thuyết này bị các người theo phái cựu học chỉ trích vì cho rằng đó là tà thuyết làm mê hoặc lòng người, càng ngày càng có nhiều người chê bai và phẫn nộ. Bèn tỏ ra thái độ tẩn xuất Ngài. Ngài ở trước đại chúng nghiêm chỉnh thần sắc, dỏng dạc tuyên bố:

- Nếu những lời tôi nói phản nghĩa kinh, thì tôi nguyện hiện thân này ngay tức khắc cảm bịnh hủi bịnh cùi. Thuyết của tôi nếu tương ưng với thật tướng thì xin nguyện lúc xả báo thân này sẽ thăng lên tòa sư tử. Nói xong Ngài bèn rủ áo ra đi.

Ban đầu Ngài đến núi Hổ Khâu ở Ðông Ngô, trong mười ngày thâu nạp hàng trăm đồ chúng. Mùa hạ năm ấy sấm chớp nổi lên chánh điện Thanh viên, rồng bay lên trời, nhưng bóng nó vẫn lưu lại vách tường phía Tây. Do đó tăng chúng đổi tên là Long Quang. Người bấy giờ than rằng:

- Rồng đã bay đi rồi thì nhất định ngài Ðạo Sanh sẽ đi xa.

Chẳng bao lâu, đến Lô Sơn ẩn tích trong hang động, chúng tăng trong đó đều kính phục Ngài. Sau đó toàn bộ kinh Niết-bàn đều được truyền đến Nam Kinh. Ðúng như lời nói: “Nhất-xiển-đề đều có Phật tánh”, lý này khế hợp với lời khi xưa Ðạo Sanh nói. Ngài được kinh này rồi bèn đem ra giảng thuyết.

Ðến niên hiệu Nguyên Gia thứ 111(434)đời Tống nhằm tháng 11 cuối đông Ngài thăng tòa thuyết pháp ở tinh xá Lô Sơn, thần sắc sáng rỡ, đức âm vang dội, Ngài lần lượt luận nghị lý lẽ tuyệt diệu, khiến thính giả đều được pháp hỷ. Thuyết pháp vừa xong, đại chúng chợt thấy cây phất tử rơi xuống đất. Ngài ngồi ngay ngắn trên tòa mà sắc mặt an nhiên tựa kỷ thị tịch. Thần sắc bình thường như cảnh nhập định.

Tin Ngài thị tịch, bất luận đạo tục xa gần đều than khóc ai bi. Bấy giờ tăng chúng ở kinh sư trong lòng hỗ thẹn, đau đớn và rất tín phục. Uy thần của Ngài hiển hiện ra những điềm lành như vậy. Sau đó đệ tử an táng nhục thể Ngài ở Lô Sơn.

Thuở nhỏ Ðạo Sanh, Tăng Duệ và Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán là những người bạn học đều nổi danh. Cho nên người thời ấy đều bình rằng: Sanh, Duệ phát thiên chơn, Nghiêm Quán thông suốt, Tuệ Nghĩa, Bành Hưởng tiến Khấu, Uyên bế tắc nơi im lặng. Ðạo Sanh và Tăng Duệ nổi thật là thiên chơn. Vì thế tài năng xuất quần.

Ban đầu ở Quan Trung Tăng Triệu mới chú thích kinh Duy Ma, cả nước đều thưởng vị. Ðạo Sanh bèn chỉnh lại ý chỉ thâm sâu để hiển bày thông suốt kinh điển mới, đồng thời sớ giải nghĩa các kinh; thời ấy đều quý trọng. Vương Vi sánh Ngài như Quách Lâm Tôn, bèn truyền bá để lưu đức Ngài ở đời. Người thời ấy suy ra chủ thuyết xiển-đề được thành Phật là chính xác. Ðốn ngộ không chịu quả báo cũng trở thành hiến chương thời đó. Thái tổ nhà Tống thường thuật lại nghĩa đốn ngộ của ngài Ðạo Sanh. Sa-môn Tăng Bậc v.v... cũng đặt ra câu hỏi để chất vấn.

Vua nói:

- Dẫu cho người chết cũng có thể làm đạo hưng thịnh, đâu thể bị các ông khuất phục.

Sau này ở chùa Long Quang cũng có vị Sa-môn tên là Bảo Lâm, ban đầu đến Trường An cầu học. Sau đó Thái Tổ thuật lại các nghĩa của ngài Ðạo Sanh. Người thời đó xưng là Du Huyền Sanh. Trước tác Niết-bàn Ký và Dị Tông Luận, Hịch Ma Văn v.v... Pháp Bảo là đệ tử của Bảo Lâm cũng học thông nội ngoại điển. Trước tác Kim Cang Hậu Tâm Luận. Cũng là nghĩa do vua Thái Tổ đã thuật lại của Ðạo Sanh. Vào thời cận đại cũng có vị gọi là Thích Tuệ Sinh ở chùa Long Quang. Sống đạm bạc, giản dị, học giỏi kinh điển và công thảo lệ (học tập). Thời bấy giờ người ta lấy việc cùng nối nhau ở một chùa nên đặt là Sanh lớn và nhỏ.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.