Tiểu Sử
|
|||
| Danh Tánh | Tổ Thứ 50 - TS Thiên Đồng Đàm Hoa - Ðời Thứ 13 Tông Lâm Tế -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1103 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | Tổ Thứ 49 - TS Hổ Khâu Thiệu Long - Ðời Thứ 12 Tông Lâm Tế | ||
| Đồng Môn | N/A | ||
| Phối Ngẫu | #1 | Danh Tánh | Chưa Rõ |
| Pháp Tử | ♂️ 0-Nghiêm Triều Giáo Thọ Khương, ♂️ 0-TS Trí Giả Mãn, ♂️ 0-TS Hòa Sơn Tâm Giám, ♂️ 0-TS Tường Phù Thiện Ðăng, ♂️ 0-TS Phụng Sơn Thuyên, ♂️ 0-Cư Sĩ Thị Lang Lý Hạo, ♂️ 0-Thư Ký Nam, ♂️ Tổ Thứ 51 - TS Mật Am Hàn Kiệt - Ðời Thứ 14 Tông Lâm Tế | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 1163 |
Hành Trạng
1. Thiền sư Ðàm Hoa ở Thiên đồng. Thiền sư Ðàm Hoa ở Ứng am - Thiên đồng tại Minh châu. Vốn người dòng họ Giang ở Kỳ châu. Lúc vừa mới sinh mà Sư đã có tướng kỳ đặc, tuấn kiệt. Năm mười bảy tuổi, Sư đến Ðông thiền cầu xin xuống tóc xuất gia. Mới đầu, Sư đến bái yết Thiền sư Toại ở Thúy nam, được nhuần pháp chỉ đạo vị, nhân đó vân du khắp giang hồ, cùng các bậc Lão túc kích khơi đều khế hợp. Sư đến vân du lễ bái Thiền sư Viên Ngộ, vừa một lần thấy gặp mà Thiền sư Viên Ngộ tha thiết răn dắt Sư. Ðến lúc ra đất Thục, Sư đến bái yết Thiền sư Long - lúc đang ở Phương giáo. Về sau, Thiền sư Long chuyển dời đến Hổ khâu, Sư cũng đi theo hầu. Chưa đầy nửa năm mà Sư chóng tỏ rõ đại sự. Sư giã từ đi đến Ứng am, phân tòa tại Liên vân, khai đường giảng pháp tại Diệu nghiêm, sau đó Sư lại chuyển dời đến ở các chùa lớn. Ngày ở tại Quy tông, khi ấy Thiền sư Ðại Tuệ đang ở tại Mai dương, có vị Tăng rao truyền ngữ cú chỉ dạy của Sư đến đó. Thiền sư Ðại Tuệ trông thấy, mà hết lời tán thán, lại dùng kệ tụng gởi đến Sư rằng: “Ngồi dứt Kim luân núi thứ nhất, ngàn yêu trăm quái, tông vết tiêu. Năm sau lại được tin tức Phật. Báo đáp Dương Kỳ chánh mạch thông”. Thiền sư Ðại Tuệ mến trọng quy ngưỡng Sư đến như vậy. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chín năm ngồi xoay mặt vách tường, nát hoại cháu con ở Ðông độ, một chiếc giày mang trở về Tây vức, độn đặt Lão Tử mặt vàng”. Sư nắm cây gậy, họa vẽ một đường, tiếp bảo: “Trâu đá giang ngang đường xưa, một con ngựa sinh ba con hổ”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Lão Ðức Chương mù lòa hối ngốc, từ trước lại không đượm mùi vị, nắm được miệng, mất liền lỗ mũi, canh ba hai điểm xướng ba ca, không mối chống dấc Phạm vương ngủ”. Sư hét một tiếng, tiếp bảo: “Ta đi trong cỏ hoang, ông lại vào thôn sâu”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Lâm Tế ở nơi Hoàng Nghiệt, ba lần ăn gậy thấu đạt ý chỉ. Các người lại thấy được thấu chưa. Ngay như mät lần cắn bèn đứt, cũng chưa phải là Ðại trượng phu tài giỏi. Chư Phật ba đời miệng treo trên vách tường, các lão Hòa thượng trong thiên hạ lấy gì ăn cơm?” Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Từ ngày mười lăm trở về trước, nước dâng thuyền cao, từ ngày mười lăm trở về sau, đất bùn nhiều Phật lớn, ngay ngày mười lăm, các chép biển đông đánh gậy mưa tợ nghiêng đổ bồn. Ngay như được tất cả chúng sinh trong khắp tam thiên đại thiên thế giới thảy đều hoan hỷ cho đó là đánh một gậy chẳng phòng ngại ứng thời ứng tiết, báo ân bất chợt thông thân nhảy nhót, bèn làm một bài thơ cử tợ đại chúng. Chuồn chuồn hứa phải chuồn chuồn xinh, bay đi bay lại chẳng từng dừng, bị ta bắt lại ngắt hai cánh, vừa tợ một cái đinh sắt lớn”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Nếu làm một câu thương lượng, ăn cháo ai người chẳng hiểu, chẳng làm một câu thương lượng, trùng con trong hầm phẩn cười giết chết Xà-lê”. Sư nắm cây gậy, tiếp bảo: “Cây gậy tội phạm quá trời, đè nén đến hai núi Thiết vi. Hãy nói Tiến phước lại có quá phạm không?” Sư gõ cây gậy một cái, tiếp bảo: “Chậm một khắc”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Sáng không thấy tối, tối không thấy sáng, sáng tối cả hai đều mất, không khác A Sư thế tục. Dã can sủa, sư tử rống. Sư tử rống, Dã can sủa ba nhà trong thôn ngửi mùi khỉ giá tăng gấp mười lần. Hạt châu minh nguyệt dưới cằm Ly long phân vằn chẳng thẳng, nếu làm lỗ mũi nạp Tăng nơi nào được lại, ba mươi năm sau kéo tay đấm ngực chưa phải là khổ”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Bên rá cơm trong thùng sơn, cùng khạc nhổ nhiều ông tát nước, cùng mắng chửi nhiều ông tiếp mổ, nước Hoàng hà ba ngàn năm một lần trong, Bàn đào năm trăm năm một lần nở hoa. Hạc-lặc-na cắn nhằm răng miệng, Chu Ðảnh Vương cười lớn ha ha. Năm mươi năm trước, Quy Tông có một tắc công án, ngày nay nêu cử tợ các người. Hãy nói là công án gì? Vương Tiết cấp mất ngay tấm thiếp”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ăn cháo ăn cơm bất chợt cắn nhầm đầu lưỡi, máu vấy lên đến Phạm thiên, dưới bốn thiên hạ mưa dàn dụa có thừa, Ngọc hoàng đại đế phát đuổi hỏi Long vương ở Ðông hải, đến trên đỉnh núi Kim luân xét hỏi. Chỉ trong khoảnh khắc truy tìm các người vì làm chứng kiến. Vả lại, mỗi mỗi xin y như thật tỏ bày, rất kỵ xoay lánh. Nếu như không thật, thì vui chôn tánh mạng các người”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Năm trăm lực sĩ nâng đá nghĩa, đầu vực muôn nhận buông tay đi, mười phương thế giới một nắm sắt, trên lưng hư không lông trắng mọc, ngay như nắm liền chức khăn phấn, buông thoát áo vải mùi chim cốt, đến dưới cửa Báo ân, chánh khéo ăn gậy. Cớ sao nửa đêm dậy lại cong gối ngồi, đầu cờ sao hiện trước nạp Tăng”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Trong mắt chư Phật ba đời không đường gân, dưới da Tổ sư sáu đời không có máu, rõ ràng cắn nhằm môi nếu, nhạy vọt ra kia quay vọng chẳng được, cớ sao Nam Tuyền chém mèo con?” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Người tham thiền rất kỵ nhầm dụng tâm, tỏ ngộ kiến tánh là nhầm dụng tâm, thành Phật thành Tổ là nhầm dụng tâm, đi đứng nằm ngồi là nhầm dụng tâm, ăn cháo ăn cơm là nhầm dụng tâm, tả phẩn đái vãi là nhầm dụng tâm, một động một niệm một đi một lại là nhầm dụng tâm. Lại có một nơi nhầm dụng tâm. Quy Tông chẳng dám cùng các người nói phá. Cớ sao một chữ vào cửa công, chín năm xe chẳng ra?” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thợ tài khéo chưa ra tay, ngọc đá chẳng phân, không người giỏi đúc, vàng cát lẫn lộn. Giả sử không Thầy tự tỏ ngộ, đến dưới cửa Thiên đồng, chánh khéo sáng đánh ba ngàn gậy chiều đánh tám trăm gậy”. Chợt nhiên Sư nắm cây gậy, tiếp bảo: “Gọi làm cây gậy, ngọc đá chẳng phân, không gọi làm cây gậy, vàng cát lẫn lộn. Trong đó một cái nửa cái khéo phân rành đầu mối, quản lấy bước bằng đan tiêu, hoặc chưa như vậy”. Sư gõ cây gậy một cái, tiếp bảo: “Gấp đặt mắt trông xem”. Có vị Tăng hỏi: “Bà Tử hỏi Nham Ðầu: “Với Trình mùa mái chèo cong thì chẳng hỏi, hãy nói đứa con trong tay Bà Tử từ đâu được lại?” Nham Ðầu gõ vào mạn thuyền ba cái Ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Mung gặp đánh nhằm liền đáy lạnh cóng”. Lại hỏi: “Lúc ấy nếu hỏi thì Hòa thượng đối đáp như thế nào?” Sư đáp: “Một cây gậy đánh giết”. Lại nói: “Lão Hòa thượng ấy rất giống mua khăn trùm đầu”. Sư bảo: “Ông đến nơi nào mà thấy được Nham Ðầu?” Vị Tăng ấy đáp: “Tráp tâu”. Sư bảo: “Ðổ Tuyển Thiền Hòa”. Lại hỏi: “Bà sinh được bảy người con, sáu đứa chẳng gặp tri âm, chỉ còn một đứa ấy cũng không tiêu được, vất bỏ vào trong nước lại tạm như thế nào?” Sư đáp: “Thiếu bán đùa vui”. Lại hỏi: “Lúc ấy bất chợt Nham Ðầu nhả thè lưỡi, ý làm sao sống?” Sư đáp: “An vui thì đồng hoan hỷ”. Lại hỏi: “Có vị Tăng hỏi Vân Môn: “Thế nào là tịnh pháp thân?” Vân Môn đáp: “Hành lan hoa thuốc”. Ý ấy như thế nào?” Sư đáp: “Cát sâu nỏ tròng mắt”. Lại hỏi: “Chỉ vậy là chôn vùi chính mình, chỉ vậy là cô phụ tiên Thánh, lìa hai tướng ấy nơi nào hòa bùn kéo nước, xin Sư chỉ bày?” Sư đáp: “Ðũa ngọc chống miệng hổ”. Lại nói: “Một lời vàng đá đàm nói lại nặng, muôn sự lông hồng, thoát đi nhẹ nhàng”. Sư bảo: “Chớ lừa dối Lào Tăng tài khéo”. Lại hỏi: “Mọi người đều sợ lửa đốt nóng, tôi thích ngày hạ kéo dài, ùn gió từ phương Nam lại, lầu các lúc thoáng chút gió mát thì thế nào?” Sư đáp: “Dáo ngã mặc giáp”. Nhân ngày húy kỵ tại Hổ khâu, Sư niêm hương rằng: “Bình sinh chẳng dấy khua nhằm cái không ý trí. Lão Hòa thượng làm hết kỹ lưỡng, ghé hợp không được, từ đây ngự đi can qua, tùy phần mặc áo ăn cơm, hai mươi năm lại, ngồi nơi cái sàn khúc lục, treo đầu heo bán thịt chó, biết kia có lắm chứng cứ, tuy là một năm qua một ngày đốt hương. Ngàn xưa khiến người chuyển hận thêm sâu”. Ở trong thất, Sư hay rèn luyện kỳ ngải, nên người đời xưng gọi nơi Sư và Ðại Tuệ là hai môn Cam lồ. Sư từng răn dạy đồ chúng rằng: “Nhà nạp Tăng mang giày cỏ ở tại viện, chẳng giống như rắn hổ mến nhớ hang huyệt ư?” Ðến ngày 13 tháng 06 năm Long Hưng thứ nhất (1163) thời Nam Tống, Sư an nhiên thị tịch, dựng tháp an táng toàn thân tại Bản sơn.
