Tiểu Sử
Hành Trạng
2. Thiền sư Tuệ Cần ở Thái bình. Thiền sư Tuệ Cần - Phật Giám ở Thái bình tại Thư châu, vốn người dòng họ Uông ở Bản quận. Vừa mới độ tuổi búi tóc, Sư đã rộng học kinh giáo viên thâm, qua khảo xét khả năng tập học mà được độ. Từng do duy chỉ một việc đây thật. Ngoài ra, hai chẳng phải vị Phật, mà cósự tỉnh ngộ. Sư mới vân du tham phỏng khắp các bậc danh túc, qua lại nơi cửa Ngũ tổ có mấy năm, tức giận Thiền sư Diễn chẳng vì ấn chứng. Sư cùng Thiền sư Viên Ngộ cùng bàn tính tiếp nối bỏ đi. Ðến lúc Thiền sư Viên Ngộ trở về lại Ngũ tổ, mới chứng ngộ thấu triệt, mà Sư bỗng có chí ý muốn đi nơi xa. Thiền sư Viên Ngộ gắng khuyên Sư dừng lại, nên nói là: “Tôi cách biệt huynh mới hơn tháng nay, so với thời trước thấy như thế nào?” Sư đáp: “Ðiều tôi nghi là đây cũng toại tham đường”. Một ngày nọ, nghe Thiền sư Diễn nêu cử có vị Tăng hỏi Triệu Châu: “Thế nào là gia phong của Hòa thượng?” Triệu Châu đáp: “Lão Tăng lỗ tai bị điếc, nên hỏi lại nghe”. Vị Tăng ấy lại hỏi, Triệu Châu đáp: “Ông hỏi gia phong của Ta, tức Ta biết gia phong của ông rồi vậy”. Khi ấy, Sư rỗng toan điều nghi, mới nói: “Xin Hòa thượng chỉ dạy khuôn phép cùng cực”. Thiền sư Diễn bảo: “Sum-la và muôn tượng là điểm ẩn của một pháp”. Sư bày lễ bái. Thiền sư bảo Sư làm chủ bút mực. Về sau, sư cùng Thiền sư Viên Ngộ đàm nói câu thoại, tiếp theo nêu cử Ðông tự hỏi Ngưỡng Sơn về nhân duyên Trấn hải minh châu. Ðến nơi không còn lý có thể trình bày, Thiền sư Viên Ngộ trưng bảo: “Ðã gọi là gom không được đợi dây xâu châu này, lại nói không lời có thể đáp, không lý có thể tỏ bày”. Sư bèn không thể đáp thêm điều gì nữa. Qua sáng hôm sau, Sư nói cùng Thiền sư Viên Ngộ: “Ðông tự chỉ đòi một hạt châu, mà Ngưỡng Sơn nghiêng đổ ra từng giỏ”. Thiền sư Viên Ngộ rất chấp thuận đó, mới bảo Sư rằng: “Lão huynh lại nên thân gần lão Hòa thượng đi”. Một ngày nọ, Sư đến phương trượng, chưa kịp mở miệng nói, bị Thiền sư Diễn quát mắng, Ma-la mà rút lui, về liêu đóng cửa ngủ, Sư hận Thiền sư Diễn không thôi. Thiền sư Viên Ngộ đã kín biết việc ấy, đi đến gõ cửa. Sư hỏi: “Ai đó?” Thiền sư Viên Ngộ đáp: “Tôi!” Sư liền mở cửa. Thiền sư Viên Ngộ hỏi: “Ông thấy Lão Hòa thượng như thế nào?” Sư đáp: “Tôi vốn chẳng muốn đi, bị ông thôi thúc phiền lụy, nên tôi đến gặp bị Lão tài giỏi ấy mắng nhục”. Thiền sư Viên Ngộ cười lớn ha ha rồi bảo: “Ông nhớ được lời nói cuối cùng ngày trước không?” Sư nói: “Là nói cái gì?” Thiền sư Viên Ngộ nói: “Ông lại nói Ðông tự chỉ đòi một hạt châu, mà Ngưỡng Sơn nghiêng đổ ra từng giỏ”. Ngay lời nói ấy, sư tỏ ngộ, Thiền sư Viên Ngộ bèn dẫn Sư đồng đến phương trượng. Thiền sư Diễn vừa mới trông thấy, vội bảo: “Huynh cần hãy vui mừng việc lớn đã hoàn tất rồi vậy”. Qua năm sau, bảo Sư làm đệ nhất tòa, gặp lúc Thiền sư Linh Nguyên ở Thái bình đi đến Hoàng long nên pháp tịch đó trống vắng, Thiền sư Linh Nguyên mới đề đạt Sư với Thư thú Tôn Ðảnh Thần, Sư bèn có mạng lệnh bổ nhậm Thái bình, Thiền sư Diễn đem pháp y trao truyền cho Sư, Sư nhận bưng lấy mà nói với đại chúng: “Ngày xưa Ðức Phật Thích-ca Văn đem pháp y ca sa dệt bằng vàng cao trượng sáu đắp cho thân Phật Di-lặc cao ngàn thước, thân Phật chẳng cao mà pháp y ca sa chẳng ngắn. Có hiểu chăng? Tức cùng dạng đây không khác vậy, từ đó Ðạo pháp truyền bá khắp rộng ra”. Ðến đầu niên hiệu Chánh Hòa (1111) thời Bắc Tống, Sư có được sắc ban thỉnh mời đến ở Trí hải tại Ðông đô. Ðến năm Chánh Hòa thứ năm (1115) thời Bắc Tống, Sư xin trở về, lại được sắc chiếu mời đến ở Tương sơn. Xu mật Ðặng Công Tử từng tấu trình truy tặng Sư huy hiệu. Thầm Phục Tăng hỏi: “Thế nào là đại ý của Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại?” Sư đáp: “Ăn chua biết chua, ăn mặn biết mặn”. Lại hỏi: “Lúc cung gãy tên hết thì như thế nào?” Sư đáp: “Một trường ma-la”. Lại hỏi: “Người chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?” Sư đáp: “Kéo phá lộ trụ”. Lại hỏi: “Lúc về quê hương mà không lối đi thì thế nào?” Sư đáp: “Vương Trình hữu hạn”. Lại hỏi: “Trước ba ba sau cũng ba ba làm sao sống?” Sư đáp: “Sáu lần sáu là ba mươi sáu”. Lại nói: “Nhân nghe Hòa thượng thân gần thấy gặp Ngũ tổ, có phải vậy chăng?” Sư đáp: “Trâu sắt cắn nát có vàng ròng”. Lại hỏi: “Nghĩ gì thì thân gần thấy Ngũ tổ vậy”. Sư đáp: “Ta cùng ngươi có lắm oán thù”. Lại hỏi: “Chỉ như Tổ sư Ðạt-ma thấy vua Võ Ðế (Tiêu diễn 502-550) thời Nam Lương, ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Tiếng Hồ dễ rành, tiếng Hán khó rõ”. Lại nói: “Vì rất giá lạnh mờ tối qua sông”. Sư bảo: “Nhân gió gá tiện”. Lại hỏi: “Thế nào là khách trong chủ?” Sư đáp: “Tiến tới trước, lùi lui sau buồn chết người”. Lại hỏi: “Thế nào là chủ trong khách?” Sư đáp: “Lời chân thật biến thành lừa dối”. Lại hỏi: “Thế nào là khách trong khách?” Sư đáp: “Phu tử du hành ách tại trần”. Lại hỏi: “Thế nào là chủ trong chủ?” Sư đáp: “Trọn ngày đồng đi nhưng không phải bè bạn”. Lại hỏi: “Hướng thượng Tông thừa đã được Sư chỉ dạy, còn hướng thượng Tông thừa, việc ấy như thế nào?” Sư đáp: “Búa lớn bổ xong, tay bôi xoa”. Lại hỏi: “Với tức tâm tức Phật tức chẳng hỏi, còn phi tâm phi vật việc ấy thế nào?” Sư đáp: “Hôm qua đã có vị Tăng hỏi mà Lão Tăng chẳng đáp”. Lại hỏi: “Chưa xét rõ cùng tức tâm tức Phật cách nhau bao nhiêu?” Sư đáp: “Gần thì ngàn dặm muôn dặm, xa thì chẳng cách mảy may”. Lại hỏi: “Bỗng bị người học cắt dứt hai đầu, về nhà ẩn dật, lại làm sao sống?” Sư bảo: “Nhà ông ở nơi nào?” Lại nói: “Trong Ðại thiên sa giới, một cái thân tự do”. Sư bảo: “Chưa đến nhà ở lại nói”. Lại nói: “Người học về đến trong ấy ngay bị Ðông Tây chẳng rành, Nam Bắc chẳng phân đi vậy”. Sư bảo: “Chưa là ngoài bản phận”. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chí đạo không khó, chỉ hiềm lựa chọn, hoa đào sắc hồng, hoa lý sắc trắng, ai nói dung thông chỉ một màu? Chim yến hót, chim oanh ca, ai bảo liên quan chỉ một tiếng? Chẳng thấu then cửa Tổ sư, không nhận núi sông làm mắt trong”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thường ngày mặt nhật trầm lắng phương Tây, thường ngày mặt nhật xuất hiện phương Ðông. Nếu muốn học Bồđề”, Sư ném cây gậy xuống một cái, tiếp bảo: “Chỉ nhìn mô dạng đây, Ngũ tổ Chu Tường lên giảng đường, năm xưa thời ngay nay, lò hồng mảnh tuyết bay, ngày nay thời năm trước, Tào nga đọc bia đêm, một câu nhỏ cuối cùng, Phật nhãn chẳng thể nhìn. Sen trắng mọc trên đỉnh núi, mặt nhật nhiễu quanh Tu-di, chim mổ cây san hô, cá kình nuốt tê lìa nước, thái bình gia nghiệp hiện tại tại người tiếp nối dương kỳ”. Có lúc lên giảng đường, Sư giăng ngang cây gậy mà bảo: “Trước chiếu sau dụng”. Sư dựng đứng cây gậy rồi bảo: “Trước dụng sau chiếu”. Sư chuyển ngược cây gậy lại và bào: “Chiếu dụng đồng thời”. Sư gõ cây gậy xuống một cái, bảo: “Chiếu dụng chẳng đồng thời. Các người bị miệng một cây gậy nuốt hết rồi vậy, trí đó các người không biết, nếu đến trong đó nói được một câu chuyển thân thì khỏi thấy một trường buồn bã. Còn như chưa được vậy thì ngày nay Lão Tăng mất lợi”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Mặt nhật gấp, vầng nguyệt nhanh, gấp gấp tỏa sáng mồng 10 tháng 07, không cùng Du tử chẳng về nhà, giả sử về chỉ đứng ở trước cửa. Nắm tay dẫn nó chẳng chịu vào, muôn dặm nhìn nhìn tấc cỏ không, hoa tàn rơi đất không người nhặt, một hồi mưa qua một hồi thấm ướt”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðức Thế Tôn có mật ngữ, Tôn giả Ca-diếp chẳng che giấu. Và Sư mới bảo: “Bình thường các người nói vàng nói đen, bình phẩm xưa nay, há chẳng phải là mật ngữ. Bình thường các người chẻ xoay cúi ngưỡng, nắm thìa nắm đủa chỉ vái muôn phước, là che giấu hay chẳng che giấu? Bỗng nhiên liếc đất đi cũng không thể biết. Cần muốn hiểu chăng? Ðức Thế Tôn có mật ngữ mùa Ðông đến lạnh ăn một trăm lẻ năm (105), Tôn giả Ca-diếp chẳng che giấu. Nước rỉ chẳng thông đã bày tang vật. Nạp Tăng lanh lợi như hiểu được, trên một lớp tuyết một lớp sương”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Việc mười lăm ngày trước trên gấm bày hoa, việc mười lăm ngày sau như biển nổi bọt bóng, còn ngay ngày mười lăm, tợ như kiếng một thước soi chiếu ảnh tượng cả ngàn dặm. Tuy là chân không tuyệt vết, kia làm sa Hải ấn phát sáng, mặc tình lộ trụ ấy nở hoa, nói gì mặt Phật đá xấu, cớ sao đến đầu sương đêm, trăng mặc tình rơi lạc trước khe”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư nêu cử: “Có vị Tăng hỏi Triệu Châu: “Thế nào là nghĩa chẳng đổi dời?” Triệu Châu đưa tay làm thế dòng nước chảy, vị Tăng ấy bèn có sự tỉnh ngộ. Lại có vị Tăng hỏi Pháp nhãn: “Chẳng chấp lấy nơi tướng Như như bất động. Thế nào là chẳng chấp lấy tướng, thấy nơi Như như bất động?” Pháp nhãn đáp: “Ban ngày xuất hiện phương Ðông, ban đêm rơi lại phương Tây”. Vị Tăng ấy cũng có sự tỉnh ngộ. Nếu cũng ở nơi đây thấy được, mới biết đạo xoay phong khí nép, núi xưa nay vẫn thường lắng, sông suối đua nhau rót đổ nguyên tự chẳng chảy đổ. Nếu như chưa được vậy, chẳng khỏi lại vì lắm lời. Trời xoay bên tả đất chuyển bên hữu, xưa đi nay lại trải qua biết bao nhiêu biến. Quạ vàng bay thỏ ngọc chạy, vừa mới ra cửa. Biển lại rơi lạc sau núi xanh, sông suối sóng xa tít, Hoài Tế gợn dằn dặt, thẳng vào biển xanh ngày đêm chảy”. Sư bèn cao tiếng bảo: “Chư Thiền Ðức! Có thấy như như bất động chăng?” Ở trong thất, Sư dùng gỗ làm con xúc xắc sáu mặt, mỗi mặt đều họa viết chữ công. Có vị Tăng nào mới vào, Sư bèn ném đó và hỏi: “Hiểu chăng?” Vị Tăng ấy có phỏng nghĩ hay không phỏng nghĩ, Sư cũng đều liền đánh mà đuổi ra. Ðến ngày mồng 08 tháng 09 năm Chánh Hòa thứ 07 (1117) thời Bắc Tống, lên giảng đường, Sư bảo: “Tâm Ấn Tổ sư tượng trạng tợ cơ trâu sắt. Ði tức in dừng, dừng tức in phá. Ngay như chẳng đi chẳng dừng, cũng chưa là nơi giẫm trải của nạp Tăng. Hãy làm gì sống là nơi giẫm trải của nạp Tăng? Ðợi đến trước sau tháng mười sẽ vì các người chú phá”. Qua ngày mồng 08 tháng 10, Sư tắm gội thay đổi y phục xong, ngồi kiết già viết vài bức thư tay giã biệt những người thân quen xưa trước. Xong, dừng bút, Sư bèn thị tịch. Trà tỳ rồi gom nhặt linh cốt, dựng tháp an táng tại bản sơn.
