Tiểu Sử
| Danh Tánh | TS Tánh Khoát Trừng Trừng - Ðời Thứ 35 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 4 Dòng Lâm Tế Đàng Ngoài -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1685 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | 0-TS Như Văn - Ðời Thứ 34 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 3 Dòng Lâm Tế Đàng Ngoài | ||
| Đồng Môn | ♂️ 0-TS Tánh Chủng, ♂️ 0-TS Tánh Lâm | ||
| Phối Ngẫu | #1 | Danh Tánh | Chưa Rõ |
| Pháp Tử | ♂️ 0-TS Hải Phan - Ðời Thứ 36 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 5 Dòng Lâm Tế Đàng Ngoài | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 1741 |
Hành Trạng
Thiền Sư Tánh Khoát Trừng Trừng
(1685 - 1741)
Thiền sư Tánh Khoát-Thích Trừng Trừng trụ trì chùa Quang Khánh ở xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương).
Thiền sư Tánh Khoát sinh năm Ất Sửu (1685) ở xã Kính Chủ, huyện Giáp Sơn, trấn Hải Dương. Cha họ Hoàng, mẹ họ Lê, nối đời làm nghề khắc đá, nghệ thuật tinh chuyên.
Năm Vĩnh Thịnh 4 (1708), sư theo cha đến khắc bia ở chùa Sùng Phúc (xã Lai Xá, Lương Tài, trấn Kinh Bắc), bỗng có lòng mến mộ đạo Phật, nên khi trở về nhà xin cha mẹ cho xuất gia với Hòa thượng Như Văn ở chùa Quang Khánh - sư tu học rất chuyên tâm và tinh tiến.
Sau đó được triều đình cấp độ điệp, sư cùng với thầy làm Phật sự ở kinh thành Thăng Long.
Sau khi Hòa thượng Như Văn viên tịch (1723), Thiền sư Tánh Khoát kế tiếp ngọn đèn pháp Hoàng truyền Phật pháp được 18 năm, đến ngày mùng 3 tháng 9 năm Tân Dậu (1741) sư viên tịch tại chùa Quang Khánh, thọ 57 tuổi, 35 tuổi đạo. Trong lúc đó, hoàn cảnh kinh tế địa phương đói kém nên thi hài của Thiền sư Tánh Khoát được an táng tạm trong vườn chùa.
Đến tháng 10 năm Đinh Sửu (1757), đệ tử của sư là Hải Phạn mới đứng ra lo xây dựng tháp Liên Phương ở khuôn viên chùa Quang Khánh để thờ cúng Thiền sư Tánh Khoát-Thích Trừng Trừng.
Sa môn Tánh Quảng-Thích Điều Điều soạn bia kể lại hành trạng của Thiền sư Tánh Khoát ở tháp Liên Phương, Tỳ Kheo Hải Luật-Quýnh Quýnh viết chữ, Hoàng Công Nghệ (người xã Kính Chủ) khắc bia vào năm Cảnh Hưng thứ 18, bia “Liên Phương tháp ký” (năm 1786) viết chữ một mặt ngang 60 cm, cao 75 cm, không có trang trí xung quanh, khắc chữ Hán, 27 hàng, khoảng 800 chữ.
