TS Tăng Hựu

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Tăng Hựu -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTS Pháp Dĩnh
Đồng MônN/A
#2Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTS Pháp Dĩnh
Đồng MônN/A
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ TS Bảo Xướng
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ TS Bảo Xướng

Hành Trạng

Tăng Hựu: Ngài vốn họ Du, Tổ tiên Ngài ở hạ Bỉ, Bành Thành nhưng cha đến ở Kiến nghiệp, khi Ngài lên mấy tuổi thì vào ở Chùa Kiến Sơ lễ bái, vì vui thích đạo nên không chịu về, cha mẹ thương yêu nên chìu theo chí nguyện cho phép xuất gia, thờ Ngài Tăng Phạm làm thầy. Năm mười bốn tuổi người nhà lén tìm người hôn phối.

Ngài biết chuyện nên chốn đi đến ở với Pháp Sư Pháp Đạt ở Định Lâm. Ngài Pháp Đạt cũng là bậc giới đức tinh nghiêm làm rường cột cho Phật Pháp. Ngài hầu hạ kính thờ thầy hết lòng, đến năm đủ tuổi thọ giới cụ túc Ngài càng giữ gìn miên mật hơn.

Ban đầu thọ giáo nơi Sa Môn Pháp Dĩnh. Pháp Dĩnh cũng là một bậc thầy lừng danh một thuở là một Thượng Thủ trong làng tăng học luật. Ngài Tăng Hựu bèn dốc lòng nghiên cứu suy tư không thể ngày đêm, sau đó thông suốt luật bộ có chỗ vượt hơn bậc tiên triết.

Tề Cảnh Lăng Văn Tuyên Vương thường thỉnh về cung giảng luật. Thính chúng thường thường đến bảy, tám tăm người, giữa năm Vĩnh Minh được sắc thỉnh vào Ngô Thứ chọn lọc năm chúng đồng thời tuyên giảng Thập Tụng. Ngài lại nói rõ về pháp thọ giới.

Được phẩm vật cúng dường của tín thí Ngài đều đem tu sửa Chùa Kiến Sơ ở Định Lâm và Chùa Thiện Chư đồng thời lập Vô già Đại Tập, xả thân tế trai v.v… Còn in ấn Kinh tạng sưu tập hiệu đính các quyển Kinh. Làm cho chốn Chùa Chiền được hưng thịnh, pháp âm không dứt, tất cả nhờ công lao của Ngài vậy.

Ngài có những suy tư sâu sắc nên tự chuẩn lượng mẫu mực, nên người thọ y theo khuôn đúc thước tấc không sai, cho nên tượng Phật đá vĩ đại ở huyện Diệm núi Giang Trạch nhiếp thật tuyệt hảo, đều nhờ Ngài Tăng Hựu ban đầu thọ theo nghi tắc bản vẽ. Nay càng lễ ngộ thâm hậu hơn, phàm những việc rắc rối trong Tăng chúng đều nhờ Ngài thẩm quyết.

Đến lúc tuổi lớn chân yếu, có bịnh. Vua hạ chiếu thỉnh ngồi xe vào cung truyền giới cho lục cung. Ngài được xem trọng như vậy cho nên Khai Thiện, Trí Tạng, Pháp Am, Tuệ Khuếch đều tôn kính đức hạnh của Ngài, đồng thời phụng thờ với lễ của người đệ tử.

Lâm Xuyên Vương Hoành, Nam Bình Vương Vĩ Nghi, cùng Trần Quận Viên Thăng, Vĩnh Khang Định công chúa, quý Tần họ Đinh nhà Lương đều tôn sùng giới hạnh của Ngài, phụng sự tận tình bằng lễ thầy trò. Còn nói đến hàng đệ tử tại gia Xuất Gia có hơn cả ngàn cả vạn người. Ngài tịch ngày 26 tháng 5 năm Thiên Giám thứ bảy ở Chùa Kiến Sơ, thọ bảy mươi bốn tuổi.

Vì thế xây tháp bên mộ cũ ở Chùa Định Lâm phía Tây lô Khai Thiện. Đệ tử Chánh Độ lập bia để tưởng nhớ công đức. Đông Hoàn Lưu Tư soạn văn, lúc Ngài mới soạn tập Kinh tạng xong bèn sai người sao chép những điều cốt yếu, thành bộ Tam Tạng Ký, Pháp Uyển Ký Thế Giới Ký, Thích ca Phổ và Hoằng Minh Tập v.v… đều còn lưu hành ở đời.

Luận rằng: Lễ là xuất phát từ nền gần với trung tín. Luật cũng bắt nguồn từ việc phòng phi chỉ ác. Thế nên tùy theo trường hợp phạm mà chế thiên mục. Đến như song thọ còn đủ vết tích. Từ khi bóng thế tôn khuất dạng, Ngài Ca Diếp nối pháp. Vì mệnh danh là người trì luật, tôn giả Ưu bà li phải đọc lại luật Tạng.

Ba Li tay cầm quạt ngà miệng đọc lời của đấng Điều Ngự, đủ tám mươi phen mới trọn vẹn nghĩa. Thế là bèn đề lên lá cây, gọi là Bát Thập Tụng luật. Sau đó Ca Diếp, A Nan, Mạc Điền Địa, Xá Na Ba Tư, Ưu Ba Quật Đa ba vị La hán này lần lượt truyền nhau gìn giữ. Đến đời Ngài Quật đa có Vua A Dục.

Vị này trị vì thành Ba sất lê Phất đa. Nhân vì xưa thấy Phật bèn tạo thiết luân ngự thế. Nhưng bản tánh đố kỵ bất nhẩn trong chánh trị bạo ngược. Thiêu đốt Kinh sách, sát hại những vị đắc đạo, sau này đổi tâm quay về chánh tín sám hối tội trước. Từ xa biết được ứng chơn kết tập lại tam tạng.

Thế nhưng vì cùng chất, chỗ thấy nghe mỗi người dẫn lời thầy mình, y cứ khác nhau mà tạo thành năm bộ, chế ra giới luật khinh trọng khác nhau, khai phá phế lập thảy đều có đôi chút sai khác. Nhưng tất cả do Như Lai ngày xưa khéo ứng cơ tiếp vật. Có khi tùy người, tùy căn cơ, tùy thời gian, tùy quốc độ. Hoặc chỗ này phải khai, nhưng nơi khác thì chế, hoặc người này phải chế nhưng người khác thì khai cho.

Năm thầy tuy đồng nhưng lấy luật Phật mà mỗi người y cứ một kiểu, cho nên thiên tụ có khi khinh trọng, cương mục đều không hơn kém. Nương vào đó mà tu học đều có thể đắc đạo. Cho nên Như Lai lúc còn tại thế có mơ một giấc mơ về nhân duyên. Ngài đã huyền ký Kinh luật phải chia làm năm bộ.

Đại Tập Kinh nói: Sau khi ta diệt độ chánh pháp sẽ được chia làm năm bộ, điên đảo giải nghĩa làm che khuất pháp tạng gọi là Đàm vô Cúc đa, tức là Đàm Vô Đức vậy. Đọc tụng sách ngoại đạo chịu khổ ba đời, hay khéo vấn nạn, nói tất cả loài đều được thọ giới gọi là Tát bà la Nhã đế bà, tức là Tát bà đa vậy. Nói không có ngã coi khinh các phiền não gọi là Ca Diếp tỳ, nói có ngã không nói không, gọi là Bà ta phú la.

Vì mở rộng phát triển năm bộ gọi Ma haTăng kỳ, Thiện nam tử, năm bộ này tuy mỗi bộ khác nhau, nhưng không ngại gì đến pháp giới chư Phật và Đại Niết Bàn.

Văn thù Sư lợi Vấn Kinh cũng nói: Ta vào Niết Bàn một trăm năm sau sẽ có hai bộ được phát khởi. Một là Ma ha Tăng kỳ. Hai là, Đại Chúng, già trẻ cùng ở trong một hội soạn tập luật tạng. Từ bộ này lại sinh ra bảy bộ nữa. Hai là bộ Thể Tỳ Lý, toàn là bậc lão túc cùng nhau soạn luật.

Từ bộ này phân chia thành mười một bộ nữa, cho nên bài kệ trong Kinh kia nói:

Mười tám và hai bộ chính

Đều từ Đại thừa ra

Không đúng cũng không sai

Ta nói đời sau khởi

Lại vì kiến giải bất đồng, trong lúc truyền bá cũng có mười tám bộ, danh tự có đôi chút khác nhau. Cho nên lấy năm bộ làm căn bản. Từ Tát bà đa Bộ sinh ra bốn bộ, Di Sa Tắc sinh ra một bộ, Ca Diếp tỷ sinh ra hai bộ, đều là những bộ xuất hiện sau khi phật vào Niết Bàn hai trăm năm. Tăng kỳ phân chia thành hai bộ được lưu truyền đến năm thứ bốn trăm sau Phật Niết Bàn là do Đàm Vô Đức phát sinh vậy. Trong Kinh có lúc chỉ nói năm sư đó là chỉ nêu tên những vị Thượng Thủ.

Có khi nói mười tám, hai mươi thì xếp chung vào dị luận vậy. Từ khi giáo pháp truyền vào Trung Quốc thì năm bộ cũng được truyền sang. Ban đầu Phất nhã đa la tụng bộ Thập Tụng bằng văn Phạm. Ngài La thật dịch ra văn Tấn nhưng chưa xong thì Ngài Đa La đã tịch.

Sau đó Ngài Đàm ma Lưu chi lại tụng những phần còn lại và Ngài La thật dịch hết. Bộ Đàm Vô Đức do Ngài Phật đà Da xá dịch, tức là luật Tứ phần vậy. Bộ Ma ha Tăng kỳ và bộ Di Sa Tắc đều do Pháp Hiển đọc bản Phạm, Phật đà Bạt Đà la dịch ra Tăng kỳ luật. Phật đà thập dịch ra Di Sa Tắc tức là Ngũ phần luật.

Bộ Ca Diếp tỳ, hoặc nói Phạm bổn đã truyền sang nhưng chưa dịch được. Thiện kiến Ma đắc Lặc già giới nhân duyên v.v... cũng thuộc phần chi nhánh của luật. Tuy các bộ đều được truyền sang, nhưng chỉ có bộ Thập Tụng thịnh hành nhất ở Đông đô, vì xưa kia Luật Sư Tỳ Ma La Xoa vốn là bậc Thượng Thủ ở Tây Vực đến Quan Trung và qua Kinh Thiểm đều thiên giảng Thập Tụng, thấy đủ trong tông lục.

Đàm Do đích thân thừa ý chỉ, Tăng Nghiệp nối tiếp sự nghiệp hoằng hóa ở vùng đó. Các vị Cừ, An, Nghiểm Vinh v.v…đều thuật đủ sự nghiệp của Đạo Do và xếp vào hàng kỳ vĩ của đời Tống, nhưng đều y vào văn giải chưa được tinh tường.

Sau này Luật Sư Trí Xứng hết lòng nghiên cứu. Tất cả mọi chỗ còn chưa rõ Ngài đều phán thích một cách rõ ràng, bèn đặt khoa mục, giữa đời Tề, Lương, Ngài được tôn xưng là học đồ mệnh thế, truyền ghi đến nay vẫn còn. Tuệ nhờ vào định mà có, định hướng vào giới mà thành. Cho nên thứ tự, nghĩa ý của phẩm giới định tuệ tương xứng nhau. Cho nên biết người tu đạo lấy giới luật làm gốc, ở thế gian thì lấy nghĩa lễ làm đầu.

Lễ ký nói: Đạo đức nhân nghĩa không có lễ không thành. Dạy dỗ khiến cho họ ngay thẳng không có lễ không đủ.

Kinh nói: Giới là đất bằng cho các điều Thiện phát sinh, Phật đạo ở đời đều nương giới mà trụ tồn tại, cho nên luật giải năm pháp chế để cho ta biết hết việ chặt hết gốc cỏ không thể không biết. Nhưng pháp môn định tuệ là phần thứ yếu trong việc tu học, mà bọn chấp lầm sinh ra dị luận.

Người chỉ chuyên về luật thì nói giới luật là hàng đầu, các luật khác là phù phiếm, chỉ biết thiên tụ danh mục  tên của các Thiên, bèn nói là hiểu ngang với Ba Ly, chỉ có thể lật cái đãy lược nước bèn cho rằng hạnh ngang với La hán, chỉ cho rằng ta là Tăng, còn kẻ khác là gổ có suy nghĩ  mộc tưởng đây chính là kẻ khen mình chê người. Công không chuộc được tội, ngã mạn cống cao chính từ đây vậy. Người chỉ thiên về Số luận thì nói luật bộ là phần phụ, số luận là chính yếu.

Thế là bèn trái bỏ Tỳ Ni, chú trọng ấm nhập, tùy tiện đắc ý chưa từng trở ngại, cho rằng Địa Ngục không thiêu người trí, chảo dầu không nấu người hành Bát nhã. Đấy đều là những kẻ đánh mất nền tảng, thật là đáng thương. Xem chuột nhìn dê há chẳng giống đây sao.

Khen rằng: Bàn Mạnh lập giới, Kỷ Trượng đặt bài răn. Nếu người không tỏ đâu thể kế thừa. Nạp y đã và thiên tụ, từ đây sinh, giữ gìn cẩn thận khẩu ý, bền chặt tâm hình, hai cảnh vui buồn, hai bình đều sầu bi hoang lạc.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.