TS Tăng Hộ

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Tăng Hộ -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTS Không Rõ Dòng Truyền Thừa - Sơ Thời Thiền Tông Trung Hoa
Đồng Môn ♂️ TS Tuệ Tịnh, ♂️ TS Tuệ Trách, ♂️ TS Bà Phả, ♂️ 0-TS Ngũ Đài Đạo Tối, ♂️ TS Đạt Ma Cấp Đa, ♂️ TS Na Liên Đề Lê Da Xá, ♂️ TS Xà Na Quật Na, ♂️ TS Pháp Thái, ♂️ TS Bồ Đề Lưu Chi, ♂️ TS Câu Na La Đà, ♂️ TS Đàm Diệu, ♂️ TS Tuệ Trọng, ♂️ TS Pháp Nguyện, ♂️ TS Đạo Nho, ♂️ TS Đàm Quang, ♂️ TS Tuệ Phân, ♂️ TS Đàm Tôn, ♂️ TS Đàm Dĩnh, ♂️ TS Tuệ Cừ, ♂️ TS Đạo Chiếu, ♂️ TS Đàm Lan, ♂️ TS Đàm Bằng, ♂️ TS Đàm Trí, ♂️ TS Tăng Biện, ♂️ TS Đàm Thiên, ♂️ TS Trí Tôn, ♂️ TS Đạo Tuệ, ♂️ TS Tăng Hiểu, ♂️ TS Chi Đàm Thược, ♂️ TS Bạch Pháp Kiều, ♂️ TS Pháp Duyệt, ♂️ TS Huyền Sướng, ♂️ TS Pháp Hiến, ♂️ TS Tuệ Kính, ♂️ TS Pháp Ý, ♂️ TS Thích Tăng Lượng, ♂️ TS Tăng Hồng, ♂️ TS Thích Tăng Tuệ, ♂️ TS Tuệ Thọ, ♂️ TS Tuệ Lực, ♂️ TS Tuệ Nguyện, ♂️ TS Tuệ Đạt, ♂️ TS Đạo Lâm, ♂️ TS Tuệ Di, ♂️ TS Tăng Hầu, ♂️ TS Pháp Tuệ, ♂️ TS Siêu Biện, ♂️ TS Đạo Sùng, ♂️ TS Tuệ Dự, ♂️ TS Hoằng Minh, ♂️ TS Tuệ Tấn, ♂️ TS Tăng Phú, ♂️ TS Pháp Cung, ♂️ TS Tuệ Quả, ♂️ TS Phổ Minh, ♂️ TS Tuệ Khánh, ♂️ 0-TS Đạo Ý, ♂️ TS Pháp Tông, ♂️ TS Tăng Sinh, ♂️ TS Trúc Pháp Thuần, ♂️ TS Pháp Tướng, ♂️ TS Đàm Thúy, ♂️ TS Đàm Hoằng, ♂️ TS Pháp Quang, ♂️ TS Tăng Khánh, ♂️ TS Tăng Khánh, ♂️ TS Tuệ Ích, ♂️ TS Tăng Du, ♂️ 0-TS Tăng Yếu, ♂️ TS Pháp Vũ, ♂️ TS Pháp Tấn, ♂️ TS Đàm Xứng, ♂️ TS Tăng Quần, ♂️ TS Trí Xứng, ♂️ TS Pháp Lâm, ♂️ TS Pháp Dĩnh, ♂️ TS Chí Đạo, ♂️ TS Đạo Doanh, ♂️ TS Đạo Phòng, ♂️ TS Tăng Nghiêm, ♂️ TS Tuệ Do, ♂️ TS Tuệ Minh, ♂️ TS Đàm Siêu, ♂️ TS Tăng Thẩm, ♂️ TS Pháp Ngộ, ♂️ TS Phổ Hằng, ♂️ TS Đạo Pháp, ♂️ TS Tuệ Lãm, ♂️ TS Lương Châu Pháp Thánh, ♂️ TS Tăng Tùng, ♂️ TS Tịnh Độ, ♂️ 0-TS Lương Châu Tuệ Thiệu, ♂️ TS Tăng Chu, ♂️ TS Pháp Tự, ♂️ TS Chi Đàm Lan, ♂️ TS Hiền Hộ, ♂️ TS Tuệ Ngôi, ♂️ TS Trúc Đàm Do, ♂️ TS Bạch Tăng Quang, ♂️ TS Trúc Tăng Hiển, ♂️ TS Bảo Chí, ♂️ TS Thích Tuệ Thông, ♂️ TS Tăng Tuệ, ♂️ TS Pháp Quỹ, ♂️ TS Tuệ An, ♂️ 0-TS Pháp Tiến, ♂️ TS Thích Đàm Thỉ, ♂️ TS Bôi Độ, ♂️ TS Sử Tông, ♂️ TS Thích Đàm Hoắc, ♂️ TS Thiệp Công, ♂️ TS An Tuệ Tắc, ♂️ TS Trúc Pháp Tuệ, ♂️ TS A La Kiệt, ♂️ TS Kiền Đà Lặc, ♂️ TS Kỳ Vực, ♂️ TS Đơn Đạo Khai, ♂️ TS Pháp Thông, ♂️ 0-TS Diên Hiền Trí Độ, ♂️ TS Tăng Thạnh, ♂️ TS Trì Tú, ♂️ TS Pháp Độ, ♂️ 0-TS Lô Sơn Tuệ Long, ♂️ 0-TS Bạch Mã Tuệ Quang, ♂️ 0-TS Tăng Viên, ♂️ TS Tuệ Long, ♂️ 0-TS Chí Khâm, ♂️ 0-TS Hoằng Xưng, ♂️ TS Trí Lâm, ♂️ TS Hoằng Sung, ♂️ TS Tuệ Thông, ♂️ TS Pháp Trân, ♂️ TS Siêu Tấn, ♂️ TS Tăng Cẩn, ♂️ TS Tăng Cảnh, ♂️ TS Phạm Mẫn, ♂️ TS Đạo Lượng, ♂️ TS Pháp Mẫn, ♂️ TS Đàm Bân, ♂️ ĐS Thích Tuệ Tĩnh, ♂️ TS Đàm Đế, ♂️ TS Tuệ Tĩnh, ♂️ TS Đạo Uyên, ♂️ TS Tuệ Nghĩa, ♂️ TS Tăng Hàm, ♂️ 0-TS Hoằng Giác, ♂️ TS Trúc Pháp Khoáng, ♂️ TS Thích Tăng Phu, ♂️ TS Trúc Tăng Phụ, ♂️ TS Trúc Tăng Độ, ♂️ TS Thích Tăng Quang, ♂️ TS Trúc Pháp Nghĩa, ♂️ TS Trúc Pháp Sùng, ♂️ TS Vu Pháp Lang, ♂️ TS Pháp Nhã, ♂️ TS Trúc Tiềm, ♂️ TS Khang Pháp Lãng, ♂️ TS Chi Hiếu Long, ♂️ TS Khang Tăng Uyên, ♂️ TS Chu Sĩ Hành, ♂️ TS Cầu Na Bạt Đà La, ♂️ TS Ðàm Ma Mật Đa, ♂️ TS Thích Tuệ Kiền, ♂️ TS Cương Lương Da Xá, ♂️ TS Tăng Già Bạt Ma, ♂️ TS Cầu Na Bạt Ma, ♂️ TS Thích Trí Nghiêm, ♂️ TS Phù Đà Bạt Ma, ♂️ TS Phật Đà Thập, ♂️ TS Thích Ðàm Vô Kiệt, ♂️ TS Thích Pháp Hiển, ♂️ TS Đàm Vô Sấm, ♂️ TS Cầu Na Tỳ Địa, ♂️ TS Phật Đà Da Xá, ♂️ TS Tỳ Ma La Xoa, ♂️ TS Ðàm Ma Lưu Chi, ♂️ TS Phất Nhã Ða La, ♂️ TS Thích Trí Mãnh, ♂️ TS Ðàm Ma Da Xá, ♂️ TS Trúc Phật Niệm, ♂️ TS Đàm Ma Nan Đề, ♂️ TS Tăng Già Bạt Trừng, ♂️ TS Bạch Viễn, ♂️ TS Duy Kì Nan, ♂️ TS Trúc Pháp Hộ, ♂️ TS Chi Lâu Ca Sấm, ♂️ TS Trúc Pháp Lan, ♂️ TS Nhiếp Ma Đằng, ♂️ 0-TS Cưu Ma La Đa, ♂️ TS Bạch Thi Lợi Mật Đa La, ♂️ TS Phật Đà Bạt Đà La, ♂️ 0-TS Ma Lê Bạt Ma - Khai Tổ Thành Thật Tông Ấn Độ, ♂️ TS Tăng Già Đề Bà, ♂️ TS An Thế Cao, ♂️ TS Thanh Châu Đạo Minh, ♂️ TS Chi Độn, ♂️ TS Phật Đồ Trừng, ♂️ Phó Đại Sĩ, ♂️ TS Thiệu Thác, ♂️ TS Pháp Thân, ♂️ TS Tăng Thiều, ♂️ TS Pháp Hộ

Hành Trạng

Tăng Hộ: Ngài là người Diệm Cối Kê. Thuở nhỏ Xuất Gia, lại khắc ý khổ hạnh, giới đức nghiêm tịnh. Sau đó ở núi Thạch Thành trong Chùa Ẩn Nhạc. Phía Bắc của ngôi Chùa có bức tường xanh, thẳng tắp mấy mươi trượng. Ngay ở giữa hình như có hình của Phật Diệm Quang, trên có nhiều cây, nhánh tỏa xuống thành bóng râm mát.

Ngài thường đi Kinh hành đến chỗ bức tường, bèn thấy ánh sáng chiếu rực rỡ và nghe tiếng đờn sáo ca tụng: Thế là Ngài nâng lò hương tự phát nguyện tạc một tượng Phật đá mười trượng ở Bác Sơn và phác họa bức chân dung đức Di lặc ngàn thước, khiến cho những kẻ có duyên đều thấy được ba hội. Vào giữa niên hiệu Kiến vũ Bắc Tề, Ngài kêu gọi đạo tục bắt đầu đục khoét đá… nhiều năm mà mới tạc được vẻ thô sơ. Chẳng bao lâu Ngài mất bịnh rời mất.

Khi lâm chung Ngài thệ rằng:

- Công việc điêu khắc của ta không thành tựu trong một đời, hẹn thân sau ta sẽ hoàn thành nguyện vọng này. Sau này có Sa Môn Tăng Thục tiếp nối công việc dở dang ấy, vì lực không đủ nên không thành tựu.

Đến năm Thiên Giám thứ sáu nhà Lương, có Thỉ Phong sai Lục Hàm Bào Ấp ở Ngô quận trở về nước. Đêm đó tá túc ở dòng sông Diệm gặp mưa gió mịt mù, Hàm hoảng sợ giả ngủ.

Bèn mộng thấy ba vị đạo nhơn đến bảo rằng: Ông có niềm tin vững chắc thì tự nhiên được an ổn. Điện hạ Kiến An bị bệnh cảm chưa khỏi. Nếu có thể điêu khắc bức tượng của Ngài Tăng Hộ huyện Diệm thành tựu thì nhất định sẽ hết bịnh. Lẽ mầu chẳng luống nên bắt đầu khởi công làm. Hàm trở về Kinh đô trải qua cả năm dường như sắp quên mộng xưa.

Sau đó ra cửa liền thấy một vị Tăng: Kể lại chuyện tá túc thuở trước.

Nhân đó nói rằng:

- Trên dòng sông Diệm năm ngoái có còn nhớ lời dặn dò việc Kiến An Vương không?

Lúc này ông sửng hồn, đáp là không nhớ. Đạo nhơn cười nói hãy cố nhớ lại đi. Thế rồi từ giả ra đi.

Hàm chợt hiểu đó là việc phi phàm, vội vả đuổi theo thăm hỏi: Đi chừng trăm thước, bỗng nhiên không thấy. Hoát nhiên ông tỉnh ngộ và nhớ rõ mộng xưa. Chính là vị Tăng thứ ba mà ông đã thấy ở sông Diệm vậy. Ông vội giong ngựa đến trình Kiến An Vương. Vương liền tâu lên vua.

Vua ban chiếu bảo Tăng Hựu chuyên lo việc tạo tượng kia. Từ đó Vương càng tin sâu hơn và mừng vui khôn xiết. Xuất kho lấy vàng bạc để hoàn thành công việc. Lúc Tăng Hựu chưa đến khoảng một ngày, vị tăng trong Chùa là Tuệ Sính mộng thấy một đại thần mặc áo đen, tùy tùng rất tráng kiện đứng trước khám lược phân số.

Đến sáng ngày mai, Ngài Tăng Hựu đến, Thần ấy vẫn như thế. Ban đầu Ngài Tăng Hộ xây khám kia quá cạn, bèn khoét vào năm trượng để lấp lên đỉnh đầu và thân tướng, thì công việc dùi mài sắp xong. Đêm đó ngay chỗ chữ vạn bỗng phát ra màu đỏ. Nay chỗ chữ vạn ngay ngực vẫn không dát thêm lớp vàng mỏng mà màu sắc đỏ vẫn còn.

Vào mùa xuân năm thứ mười hai, Thiên giám bức tượng mới hoàn thành. Đến mùa xuân năm thứ mười lăm thì viên mãn. Thân ngồi cao năm trượng, hình đứng mười trượng. Trước bàn thờ xây đài ba tầng. Lại xây thêm cổng, các, điện đường và lập cơ nghiệp cho chúng để cúng dường một cách hoàn hảo.

Dân chúng khắp nơi kéo nhau về cúng dường hương hoa, từ vạn dặm quay về cúng thì tới lui chật cả trấn ấp. Sau khi bức tượng hoàn thành, bệnh của Kiến An Vương đáng lẽ sắp chết mà được bình phục. Vương sau đó được đổi phong chức, nay chính là Nam Bình Vương vậy.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.