TS Pháp Tánh Ấn Tông

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Pháp Tánh Ấn Tông -
Sanh#1Năm Sanh627
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTổ Thứ 33 - Tôn Giả Huệ Năng
Đồng Môn ♂️ 0-Bồ Tát Tôn Nghĩa Hưng, ♂️ 0-Thứ Sử Thiều Châu Vi Cừ, ♂️ 0-TS Đàm Thôi, ♂️ 0-TS Trí Bổn, ♂️ 0-TS Thanh Uyển Pháp Chân, ♂️ 0-TS Huyền Giai, ♂️ 0-TS Đạo Anh, ♂️ 0-TS Quang Châu Pháp Tịnh, ♂️ 0-TS Hiệp Sơn Thái Tường, ♂️ 0-TS Thanh Lương Biện Tài, ♂️ 0-TS Quảng Châu Ngô Đầu Đà, ♂️ 0-TS Tây Kinh Hàm Không, ♂️ 0-TS Tần Vọng Thiện Hiện, ♂️ 0-TS Tông Nhất, ♂️ 0-TS Tinh Châu Tự Tại, ♂️ 0-TS Thiều Sơn Duyên Tố, ♂️ 0-TS Hạ Hồi Điền Thiện Khoái, ♂️ 0-TS Nam Nhạc Kiên Cố, ♂️ 0-TS La Phù Định Chân, ♂️ 0-TS Nam Nhạc Phạm Hạnh, ♂️ 0-TS Tung Sơn Tầm, ♂️ 0-TS Thiều Châu Kỳ Đà, ♂️ 0-TS Chế Không Đạo Tấn, ♂️ 0-TS Phủ Châu Tịnh An, ♂️ TS Đông Dương Huyền Sách, ♂️ TS Tư Không Bổn Tịnh, ♂️ TS Phương Biện, ♂️ TS Vụ Châu Huyền Sách, ♂️ TS Tín Châu Trí Thường, ♂️ TS Quảng Châu Chí Đạo, ♂️ TS Giang Tây Chí Triệt, ♂️ TS Hồng Châu Pháp Đạt, ♂️ TS Thọ Châu Trí Thông, ♂️ TS Hà Bắc Trí Hoàng, ♂️ TS Cát Châu Chí Thành, ♂️ TS Biển Đam Hiểu Liễu, ♂️ TS Tào Khê Linh Thao, ♂️ TS Nam Dương Huệ Trung, ♂️ TS Hà Trạch Thần Hội - Khai Tổ Hà Trạch Tông, ♂️ Tổ Thứ 34 - TS Nam Nhạc Hoài Nhượng, ♂️ TS Thiều Châu Pháp Hải, ♂️ Tổ Thứ 34 - TS Thanh Nguyên Hành Tư, ♂️ TS Vĩnh Gia Huyền Giác, ♂️ TS Tây Vực Quật Đa Tam Tạng
Tịch#1Viên Tịch713

Hành Trạng

印 宗, Yin-Tsung (C), Inshu (J), (627-713). Thiền tăng đời Đường, họ Ấn, người xứ Ngô Quận (nay là huyện Ngô, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc.Từ khi Sư xuất gia đã nghiên cứu tinh tường toàn bộ kinh Niết bàn.
Niên hiệu Hàm Hanh năm đầu (670 - Đường Cao Tông), đến Kinh Sư, vua mời ở chùa Đại Kính Ái, sư từ tạ không nhận, đến Kì Xuân tham yết đại sư Hoằng Nhẫn. Sau ở chùa Pháp Tánh Quảng Châu, tuyên giảng Kinh Niết Bàn, gặp Lục Tổ đại sư Huệ Năng mới ngộ được lí huyền. Tuy Sư học thiền nơi Ngũ tổ Hoằng Nhẫn và là người truyền giới cho Lục tổ Huệ Năng nhưng sư vẫn xem Lục Tổ là người truyền pháp cho mình và thờ Huệ Năng làm thầy.
Theo Pháp Bảo Đàn Kinh, khi gặp Lục Tổ, Ấn Tông thưa:
- Huỳnh Mai phó chúc, việc chỉ dạy như thế nào?
Huệ Năng bảo:
- Chỉ dạy tức không, chỉ luận về kiến tánh, chẳng luận thiền định giải thoát.
Ấn Tông thưa:
- Sao chẳng luận thiền định giải thoát?
Huệ Năng bảo:
- Vì ấy là hai pháp, không phải là Phật pháp. Phật pháp là pháp chẳng hai.
Ấn Tông lại hỏi:
- Thế nào Phật pháp là pháp chẳng hai?
Huệ Năng bảo:
- Pháp sư giảng kinh Niết Bàn, rõ được Phật tánh, ấy là Phật pháp là pháp chẳng hai. Như Bồ tát Cao Quý Đức Vương bạch Phật: Phạm tứ trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch và nhất xiển-đề… sẽ đoạn thiện căn Phật tánh chăng? Phật bảo: Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường, Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, thế nên chẳng đoạn, gọi là chẳng hai; một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện, ấy là chẳng hai; uẩn cùng với giới, phàm phu thấy hai, người trí rõ thấu tánh nó không hai, tánh không hai tức là Phật tánh.
Ấn Tông nghe nói hoan hỷ chấp tay thưa:
- Tôi giảng kinh ví như ngói gạch, nhân giả luận nghĩa ví như vàng ròng.
Khi ấy vì Huệ Năng cạo tóc, nguyện thờ làm Thầy.
Sư sưu tập những lời nói của các bậc hiền đạt bốn phương từ đời Lương đến đời Đường mà viết thành “Tâm Yếu Tập” lưu hành ở đời.
Năm Tiên Thiên Thứ 2, tháng 2 (713 - Đường Huyền Tông), sư thị tịch tại chùa Diệu Hỉ, núi Cối Kê, thọ 87 tuổi.
Vương Càn ở Cối Kê lập tháp và bia (viết bài minh). [X. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q.5]. (xt. Pháp Tính Tự).

This entry was posted in . Bookmark the permalink.