Tiểu Sử
Hành Trạng
印 宗, Yin-Tsung (C), Inshu (J), (627-713). Thiền tăng đời Đường, họ Ấn, người xứ Ngô Quận (nay là huyện Ngô, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc.Từ khi Sư xuất gia đã nghiên cứu tinh tường toàn bộ kinh Niết bàn.
Niên hiệu Hàm Hanh năm đầu (670 - Đường Cao Tông), đến Kinh Sư, vua mời ở chùa Đại Kính Ái, sư từ tạ không nhận, đến Kì Xuân tham yết đại sư Hoằng Nhẫn. Sau ở chùa Pháp Tánh Quảng Châu, tuyên giảng Kinh Niết Bàn, gặp Lục Tổ đại sư Huệ Năng mới ngộ được lí huyền. Tuy Sư học thiền nơi Ngũ tổ Hoằng Nhẫn và là người truyền giới cho Lục tổ Huệ Năng nhưng sư vẫn xem Lục Tổ là người truyền pháp cho mình và thờ Huệ Năng làm thầy.
Theo Pháp Bảo Đàn Kinh, khi gặp Lục Tổ, Ấn Tông thưa:
- Huỳnh Mai phó chúc, việc chỉ dạy như thế nào?
Huệ Năng bảo:
- Chỉ dạy tức không, chỉ luận về kiến tánh, chẳng luận thiền định giải thoát.
Ấn Tông thưa:
- Sao chẳng luận thiền định giải thoát?
Huệ Năng bảo:
- Vì ấy là hai pháp, không phải là Phật pháp. Phật pháp là pháp chẳng hai.
Ấn Tông lại hỏi:
- Thế nào Phật pháp là pháp chẳng hai?
Huệ Năng bảo:
- Pháp sư giảng kinh Niết Bàn, rõ được Phật tánh, ấy là Phật pháp là pháp chẳng hai. Như Bồ tát Cao Quý Đức Vương bạch Phật: Phạm tứ trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch và nhất xiển-đề… sẽ đoạn thiện căn Phật tánh chăng? Phật bảo: Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường, Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, thế nên chẳng đoạn, gọi là chẳng hai; một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện, ấy là chẳng hai; uẩn cùng với giới, phàm phu thấy hai, người trí rõ thấu tánh nó không hai, tánh không hai tức là Phật tánh.
Ấn Tông nghe nói hoan hỷ chấp tay thưa:
- Tôi giảng kinh ví như ngói gạch, nhân giả luận nghĩa ví như vàng ròng.
Khi ấy vì Huệ Năng cạo tóc, nguyện thờ làm Thầy.
Sư sưu tập những lời nói của các bậc hiền đạt bốn phương từ đời Lương đến đời Đường mà viết thành “Tâm Yếu Tập” lưu hành ở đời.
Năm Tiên Thiên Thứ 2, tháng 2 (713 - Đường Huyền Tông), sư thị tịch tại chùa Diệu Hỉ, núi Cối Kê, thọ 87 tuổi.
Vương Càn ở Cối Kê lập tháp và bia (viết bài minh). [X. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q.5]. (xt. Pháp Tính Tự).
