Tiểu Sử
Hành Trạng
Pháp Duyệt: Ngài là một vị Sa Môn giới hạnh tinh nghiêm. Vào cuối đời Tề, Ngài được phong làm Tăng chủ ở Chùa Chánh Giác ở Kinh Sư, siêng tu phước nghiệp, bốn chúng đều quy tập. Ngài từng nghe ở Chùa Tống Vương, Bành Thành.
Tại Chùa này có tượng Phật cao trượng tám, do thứ sử Vương Trọng Đức là xa kỵ ở Từ châu của Tống Vương đúc. Tướng hảo kỳ vĩ, nổi tiếng vùng Giang Tả. Nội cảnh ở châu này lúc phát họa lớn. Tăng sư bị hoành hành, bức tượng toát mồ hôi, bao nhiêu giọt mồ hôi làm phai đi họa hoạn.
Vào đầu năm Thái thỉ nhà Tống, bọn người Lỗ ở Bắc Bành Thành muốn đến cướp tượng. Họ kéo đến cả vạn người nhưng không khiêng nổi. Vào đầu nhà Tề mấy quận ở Duệ Châu muốn khởi nghĩa Nam phủ, cũng muốn đuổi xua Chúng Tăng để lấy đất đai.
Khi ấy tướng soái của Lỗ là Lang Lăng Công, công kích vào vùng đất này bắt các vị Sa Môn. Bắt sạch các đạo nhơn ở hai châu, giam kín vào ngục rồi giả vờ cho rằng các vị làm loạn. Khi đó bức tượng toát mồ hôi ướt cả chánh điện. Khi đó Ngụy Lương, Vương Lượng trấn giữ Bành Thành ít nhiều cũng có niềm tin Tam Bảo, nên đích thân ông đến chỗ thờ bức tượng kia bảo người lau sạch mồ hôi, nhưng không tài nào hết được.
Ông bèn đốt nhang lễ lạy một cách chí thành và phát thệ rằng: Tăng chúng vô tộ, đệ tử sẽ tự lo việc ủng hộ không để dấy họa nữa. Nếu lời thành thật này có sức cảm ứng thì xin lau sạch, mồ hôi này liền hết. Nói rồi tự tay ông lau, lau tới đâu khô tới đó.
Vương kể rõ sự việc này rõ ràng, chư Tăng đều oan. Ngài Pháp Duyệt vui mừng nhìn thấy điềm linh dị này và thệ nguyện chiêm lễ. Nhưng vì quan ải ngăn cấm chẳng thể toại nguyện. Lại vào thuở xưa Vua Minh Hoàng nhà Tống cũng đã cho đúc một tượng Phật trượng tám.
Đúc bốn lần không xong, thế là đổi lại đúc một trượng tư. Ngài cùng với Sa Môn Trí Tịnh Chùa Bạch Mã hướng dẫn kẻ có duyên cùng đúc một tượng Di đà một trượng tám để tỏ bày chí nguyện của mình. Thế là bắt đầu góp tập vàng đồng. Nhưng lúc ấy gặp cuối đời Tề, đời đạo hỗn tạp, lại rất ảnh hưởng. Cho nên đầu đời Lương mới dâng biểu tâu vua, Vua hạ lệnh cho phép thực hiện, đồng thời giúp cho quang phù.
Các thợ công và nghệ nhân cũng giúp cho việc cần dùng. Đến ngày mùng 3 tháng 5, năm Thiên giám thứ tám đời Lương, bắt đầu đúc tại Chùa Tiểu Trang Nghiêm. Thợ đúc tượng thân Phật hết bốn vạn cân đồng, nung luyện xong mà vẫn chưa tới ngực, dân chúng đem đồng đến cúng nhiều vô số đổ vào các lò để nung mà trong khuôn vẫn chưa đầy, vẫn giống như trước, nên tiếp tục trình sớ tâu vua.
Vua hạ chiếu ban cho ba ngàn vạn đồng làm công đức. Trong đài mới bắt đầu cân đồng để đưa đi thì ở chỗ đúc tượng đã thấy, xe dê chuyên chở đồng đến bên lò nung. Thế là trong thoáng chốc đồng trong bể tan chảy đầy khuôn. Trong giây lát thì người ngựa biến mất. So ra số đồng xuất từ trong đài mới biết xưa lựa chỗ cho quả thật linh cảm.
Thợ thầy vui mừng, đạo tục hết lòng khen ngợi. Cho đến khi mở khuôn để cân lại thì vọt lên trượng chín, mà tướng sáng vẫn như thế. Lại có hai thẻ tiền lớn còn in trong điều y không thể nung chảy, hoàn toàn không thể nghiệm được lẽ ấy. Thế là Ngài so lại số đồng bốn vạn thuở xưa, theo lượng dùng thì sẽ thừa, sau đó thêm ba ngàn cân nữa, tính vào chỗ thiếu vẫn chưa đủ, mà điềm lành ngầm thoát khỏi dự tính của tự tâm.
Cho nên biết lẻ thần mầu nhiệm không thấu đến việc phi phàm. Khi tượng mới làm xong, Tỳ Kheo Đạo Chiêu hằng đêm lễ sám, chợt thấy bức tượng bỗng nhiên tỏa sáng. Ngài xem kỹ hồi lâu mới biết điềm linh dị của thần quang. Sau khi đúc xong ba ngày vẫn chưa khai quang, có Thiền Sư Đạo Độ là vị Tăng có hạnh Nghiêm tịnh xả y bảy điều của mình để trợ phí.
Lúc khai đỉnh chợt thấy từ xa có hai vị tăng quỳ mở búi tóc của tượng, mọi người vội vàng đến xem thì bỗng nhiên biến mất. Khi đó hai vị Duyệt và Tịnh lần lượt qua đời. Vua ban chiếu bảo đem việc đúc tượng kia giao lại cho Ngài Tăng Hựu Chùa Định Lâm. Vào ngày 26 tháng 9 năm đó, dời tượng về Chùa Quang Trạch. Tháng đó trời không mưa mà lại có gió cát.
Đến ngày mai sẽ chuyển tượng đi thì đêm có một lớp mây trôi nhẹ trên bầu trời đồng thời mưa một trận thấm nhuần cây cối. Ngài Tăng Hựu Kinh hành bên bức tượng, cứ nghĩ mãi về việc khí hậu thời tiết. Từ xa trông thấy bên bức tượng phát ra ánh sáng rực rỡ, trên dưới như ngọn đèn ngọn đuốc, đồng thời nghe tiếng kiền chùy để làm lễ sám. Ngài vào phòng xem kỹ thì bỗng nhiên mất hết.
Người giữ Chùa là Tưởng Hiếu Tôn cũng thấy việc đó. Đêm ấy khách buôn ở Hoài Trung cũng nghe dưới chiếc thuyền thôi thúc sửa cầu. Có tiếng dường như của mấy trăm người, mới biết là sức nặng của linh khí. Sau đó lại đúc thêm quang phu và có điềm lành của hoa thơm, từ Thông Hà trở về phía Tả, bức tượng này là vật duy nhất.
Luận rằng: Thuở xư Vua Ưu Điền mới khắc chiên đàn, Vua Ba tư mới luyện chất vàng, đều hiện rõ chân dung, khắc họa tướng vi diệu. Cho nên có thể lưu truyền ánh sáng, điềm lành khai phát, từ khước ngôi vị để cúng thí, còn như hai tháp thờ móng tóc và hai đài thờ y và ảnh là những vật khi Như lai còn tại thế đã thấy được khuôn phép rồi.
Từ khi thâu thân trong rừng Xà duy bên bờ sông, Vua tám nước đến thỉnh Xá Lợi về xây tháp và hai nơi thờ bình tro. Thế là mười ngôi tháp được dựng lên nơi Ngài sanh, đắc đạo, thuyết pháp và Niết Bàn, nhục kế, xương đỉnh đầu, bốn chiếc răng, đôi hài, tích trượng, ống nhổ, Niết Bàn Tăng, đều xây tháp khắc bia để biểu trưng cho sự thần bí. Hơn một trăm năm sau, Vua A Dục sai sứ vượt biển, đập phá các tháp gom lấy Xá Lợi.
Trên đường về gặp sóng gió nên bị thất lạc một số, cho nên khiến cho hải tộc lượm được, là nguyên nhân xây tám muôn bốn ngàn tháp sau này con gái của A Dục cũng lần lượt phát tín tâm, có người cho đục đá nung kim loại để khắc đục tượng Phật. Có người còn có thể băng sông vượt biển để truyền bá sang Đông xuyên.
Mặc dù tướng linh kia ai cũng biết nhưng chưa sáng tỏ sự thấy nghe của họ, cho đến khi Thái Âm, Tần Cảnh từ Tây vức trở về mới truyền nhau vẽ tượng Thích Ca. Thế rồi Lương Đài, Thọ Lăng đều họa tướng của Ngài. Từ đây trở đi hình tượng, tháp miếu cùng tranh đua với thời gian. Từ thời nhà Lương bắt đầu hưng thịnh. Luận về pháp thân không có tượng mà chỉ do cảm ứng thấy thì sẽ có sự sai khác.
Cho nên hình ảnh sẽ hóa ra nhiều sự khác nhau. Nếu dòng tâm mênh mang thì chân nghi sẽ ngăn cách sự hóa hiện. Còn tình chí khắn khít thì gỗ đá cũng khai tâm. Cho nên, Lưu Ân chí hiếu nên được sự cảm ứng. Phủ Dửu vì ông mà viết bài minh. Đinh Lang ôn hoà điềm đạm, mộc mẫu vì thế mà biến sắc.
Lỗ Dương quay giáo khiến mặt trời xoay chuyển. Đắc Kỷ rơi lệ khiến cho thành nghiêng nước đổ. Đây đều là từ sự ẩn trắc thấm thấu vào tánh tình họ. Cho nên khiến điềm lành chiếu soi vào tai mắt họ. Còn như Tuệ Đạt vời ánh sáng ở nơi bản sao của Chùa. Tuệ Lực cảm thấy điềm lành nơi nền tháp. Tuệ Thọ tỏ lòng thành nơi khúc gỗ nổi.
Tuệ Hiển chứng nơi bóng đèn dời Hồng, Lượng đều quên thân cho việc đúc tượng Ý, Hiến đều lo trọn đời cho Chùa Chiền. Pháp Hiến chuyên lòng cho việc răng cốt. Cảnh Lăng vì thế mà cảm thông. Tăng Hộ ấp ủ chí nguyện nơi Thạch Thành. Nam Bình vì Ngài mà được ứng.
Gần đây có bức tượng đồng sáng rỡ một trượng chín làm rạng ngời chốn Kinh đô. Tống đế đúc bốn lần cũng không xong nhưng Vua Lương vừa luyện thì hoàn mãn. Tướng mầu càng trội chứ không sút kém. Đồng ít mà lại đủ. Cho nên biết đạo nhờ người hoằng. Thần do vật cảm, đâu thể nói là hư huyền được. Vì thế Tế Thần như thần sống, thì thần đạo cảm giao vậy.
Kính tượng Phật như thân Phật, thì pháp thân ứng hiện. Cho nên vào đạo nhất định phải lấy trí tuệ làm nền tảng. Trí tuệ ắt phải lấy phước đức làm căn bản. Như chim có đủ hai cánh mới vút cao ngàn tầm. Xe phải có đủ hai bánh mới chạy ngàn dặm.
Há không siêng năng ư?
Há không cố gắng ư?
Khen rằng: Chơn nghi tỏa chiếu, vàng đá truyền ánh sáng, nhờ có tháp tượng nên kẻ cảm mến hâm mộ hướng về, hiện điềm lành, lành nơi oai dung. Nham thạch ẩn trong đất vọt lên, nước phụt giữa hư không, dốc chí với dòng tâm, nhất định khế hợp với lẻ mầu nhất quyết không trái.
