TS Như Nhàn

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Như Nhàn - Ðời Thứ 34 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 3 Dòng Lâm Tế Đàng Ngoài -
Sanh#1Năm Sanh1655
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTS Chân Hiền Liễu Nhất - Ðời Thứ 33 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 3 Dòng Lâm Tế Đàng Ngoài
Đồng Môn ♂️ 0-TS Như Văn - Ðời Thứ 34 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 3 Dòng Lâm Tế Đàng Ngoài
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ TS Tánh Quảng Điều Điều - Ðời Thứ 35 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 4 Dòng Lâm Tế Đàng Ngoài
Tịch#1Viên Tịch1724

Hành Trạng

Thiền Sư Như Nhàn
(1655 - 1724)

Thiền sư Như Nhàn quê ở xã Kim Lũy, huyện Đông Triều, trấn Hải Dương, cha họ Phạm, mẹ họ Lê, sinh năm Thịnh Đức thứ 3 (1655).
Năm 24 tuổi (1678), lên núi Yên Tử, xin xuất gia thọ giới với Thiền sư Chân Hiền, được ban pháp danh là Như Nhàn, truyền theo bài kệ của thiền sư Minh Hành-Tại Tại:
Minh Chân Như Tánh Hải
Kim Tường Phổ Chiếu Thông
Chí Đạo Thành Chánh Quả
Giác Ngộ Chứng Chân Không.
Sau khi đắc pháp, Thiền sư Như Nhàn vân du nhiều nơi để tham vấn Phật pháp và Thiền tông với các bậc cao tăng đương thời.
Sau đó, Thiền sư Như Nhàn dừng trụ ở chùa Tư Phúc (hay chùa Hun) ở núi Côn Sơn (Chí Linh - Hải Dương), chùa Hun ở Côn Sơn là nơi Tổ thứ ba của phái thiền Trúc Lâm là Thiền sư Huyền Quang (1254-1334) hoằng hóa và viên tịch. Tháp của Tổ Huyền Quang được dựng trên núi Côn Sơn, trong vườn. Chùa Hun, hiện vẫn còn.
Một thời gian sau, Thiền sư Như Nhàn về trụ trì ở chùa Quang Khánh ở xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương). Chùa Quang Minh được xây dựng vào đời Trần, là nơi mà Quốc sư Tuệ Nhẫn, hiệu Quán Viên (1257-1325) có thời gian hoằng hóa ở đây. Quốc sư Quán Viên đạo cao, đức trọng, có thần thông đặc biệt, vua Trần Anh Tông rất kính trọng, sắc phong Quốc sư, vua không dám gọi tên mà chỉ nói là “Viên công” (xem thêm Quốc sư Tuệ Nhẫn-Quán Viên và chùa Quang Minh).
Năm Tân Sửu (1721), chúa Trịnh Cương sai Hiển Thọ hầu đến chùa Quang Minh thỉnh Thiền sư Như Nhàn về kinh thành Thăng Long lập đàn tràng cầu đảo ở tháp Báo Thiên. Chúa phong cho sư chức Tăng phó và ban cho cà sa tử y.
Năm Giáp Thìn, niên hiệu Bảo Thái 5 (1724), đời vua Lê Dụ Tông, Thiền sư Như Nhàn viên tịch, thọ 72 tuổi, 46 tuổi lạp. Lúc đó vào thời loạn lạc nên địa phương đói kém, nên chưa xây tháp.
Đến năm Cảnh Hưng 18 (1757), môn nhân mới xây tháp phụng thờ, tháp được đặt tên là Tịnh Hạnh. Thị giả của Thiền sư Như Nhàn là Tánh Quảng - Thích Điều Điều soạn văn bia “Tịnh Hạnh tháp ký” (bài ký tháp Tịnh Hạnh), pháp tôn Hải Luật - Quýnh Quýnh viết chữ, Tánh Y-Thích Hạo Hạo khắc bia, tạo năm 1757, ngang 64 cm, cao 110 cm, khắc một mặt, không có hoa văn, trang trí. Bia chữ Nho, 46 dòng khoảng 1000 chữ.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.