0-TS Long Tường Sĩ Khuê

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Long Tường Sĩ Khuê -
Sanh#1Năm Sanh1083
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Thanh Viễn Phật Nhãn
Đồng Môn ♂️ 0-TS Việt Châu Thế Kỳ, ♂️ 0-TS Tam Thánh Chân Thướng, ♂️ 0-TS Tam Giác Cật, ♂️ 0-TS Thị Giả Biện, ♂️ 0-TS Tam Thánh Ðạo Phương, ♂️ 0-Am Chủ Tịch, ♂️ 0-TS Vân Cư Viên, ♂️ 0-TS Vân Cư Tổ, ♂️ 0-Cư Sĩ Cấp Sự Phùng Tiếp, ♂️ 0-TS Phương Quảng Thâm, ♀️ 0-TSN Tịnh Cư Huệ Ôn, ♂️ 0-TS Đạo Tràng Minh Biện, ♂️ 0-TS Quy Tông Chánh Hiền, ♂️ 0-TS Thành Đô Thế Kỳ, ♂️ 0-TS Bạch Dương Pháp Thuận, ♂️ 0-TS Hoàng Long Pháp Trung, ♂️ 0-TS Tây Thiền Văn Liên, ♂️ 0-TS Vân Cư Pháp Như, ♂️ 0-TS Ô Cự Đạo Hạnh, ♂️ TS Thủ An Thạch Quy, ♂️ 0-TS Vân Cư Thiện Ngộ
#2Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Thanh Viễn Phật Nhãn
Đồng Môn ♂️ 0-TS Việt Châu Thế Kỳ, ♂️ 0-Am Chủ Tịch, ♂️ 0-TS Tam Thánh Ðạo Phương, ♂️ 0-TS Vân Cư Tổ, ♂️ 0-TS Vân Cư Viên, ♂️ 0-Cư Sĩ Cấp Sự Phùng Tiếp, ♂️ 0-TS Thành Đô Thế Kỳ, ♂️ 0-TS Phương Quảng Thâm, ♂️ 0-TS Đạo Tràng Minh Biện, ♂️ 0-TS Quy Tông Chánh Hiền, ♂️ 0-TS Vân Cư Pháp Như, ♂️ 0-TS Bạch Dương Pháp Thuận, ♂️ 0-TS Hoàng Long Pháp Trung, ♂️ 0-TS Tây Thiền Văn Liên, ♂️ TS Thủ An Thạch Quy
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Lang Sơn Tuệ Ôn, ♂️ 0-TS Vân Cư Ðức Thăng
Tịch#1Viên Tịch1146

Hành Trạng

1. Thiền sư Sĩ Khuê ở Long tường. Thiền sư Sĩ Khuê ở Trúc am - Long tường tại Ôn châu, vốn người dòng họ Sử ở Thành đô. Mới đầu, Sư đến nương tựa Thiền sư Tông Nhã ở Ðại từ, tâm ý say sưa với kinh Lăng Nghiêm qua hơn năm năm, rồi theo phương Nam vân du đến bái yết các bậc Tôn túc. Mới đầu, lúc đến Long môn, Sư đem sở đắc của chính mình tỏ bày cùng Thiền sư Viễn - Phật Nhãn. Thiền sư Viễn bảo: “Ông hiểu rõ tâm đã đạt cùng cực, chỉ khuyết thiếu dốc sức mở mắt vậy”, bèn bảo Sư giữ chức Ðường ty. Một ngày nọ đang đứng hầu, Sư hỏi: “Lúc dứt tuyệt đối đãi thì như thế nào?” Thiền sư Viễn đáp: “Như ông ở trong Tăng đường Bạch chùy tương tợ”. Sư bèn mờ mịt. Tới chiều tối, Thiền sư viễn đến nơi Ðường ty, Sư bèn lý giải câu thoại trước. Thiền sư Viễn bảo: “Nói năng trống rỗng”. Ngay lời nói đó, bỗng nhiên Sư đại ngộ. Khoảng cuối niên hiệu Chánh Hòa (1111) thời Bắc Tống, Sư ra hoằng hóa đến ở Thiên ninh tại Hòa châu, và luôn luôn chuyển đổi đến các chùa danh tiếng. Ðến trong khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131- 1163) thời Nam Tống, Sư vâng phụng sắc chiếu đến khai Năng nhân ở Nhạn đảng. Bấy giờ Thiền sư Chân Hiết đang ở tại Giang tâm nghe Sư đến, sợ duyên pháp chưa chín mùi, đặc biệt qua sông nghinh đón sư về nơi phương trượng, bày lớn cửu bái để dẫn dụ dân chúng ở Ôn châu. Từ đó hợp nhiên quy kính. Chưa thấy Ấn triệu nên đồ chúng ấy sợ hành quy pháp, nửa đêm khuya phóng lửa vốc làm đống ngói gạch, cuối cùng Sư đến dựng buộc thất. Có lúc lên giảng tòa, Sư chỉ dạy đại chúng rằng: “Mến nhàn chẳng đánh trống Cổ sơn, về già lại nhìn núi Nhạn đảng, gác đẹp lầu cao lẫn chẳng thấy, bên khe am tranh vài ba gian. Lại có người nào cùng chung ra tay chăng?” Rồi Sư hét một tiếng và xuống khỏi tòa. Các đàn việt đến nghe pháp đều dốc sức tạo dựng, không bao lâu bèn thành một Bảo phường. Tiếp bổ nhậm Sư đến ở Giang tâm, lên giảng đường, Sư bảo: “Muôn năm một niệm, một niệm muôn năm, nhuốm áo đất trong trục, rửa chân lên giường ngủ. Nhiều kiếp đến nay mọi việc chỉ như ở nay, biển lớn sóng cả vỗ, người nhỏ tấc vuông sâu”. Sư nắm cây gậy lên, tiếp bảo: “Các người chưa được cái đầu vào, phải được cái đầu vào, đã được cái đầu vào, phải có một đường xuất thân mới được, đại chúng hãy làm sao sống là một đường xuất thân?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Tuyết đè khó đẩy tùng đáy khe, gió thổi khó động trăng bên trời”. Rồi, Sư gõ cây gậy một cái và xuống khỏi tòa. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Muôn cơ chẳng đến, mắt thấy sắc tai nghe , một câu đáng xiển dương, đầu đội trời chân đạp đất. Các người chỉ biết ngày nay là mồng 01 tháng 05, rất không biết nửa đêm quạ vàng bận rộn bay, thỏ ngọc trời sáng lên từ biển Ðông”. Xong, Sư nắm cây phất trần đánh xuống thiền sàn một cái và xuống khỏi tòa. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Rành rành không ngộ, có pháp tức mê, các người đến trong đó lập không được. Các người đến trong đó đứng không được. Nếu lập thì hiểm nguy, nếu đứng thì mù lòa. Ngay phải ý chẳng dừng huyền, câu không dừng ý, dùng chẳng dừng có. Ba cái này đã rõ, tất cả mọi nơi chẳng phải quản trệ, tự nhiên hiện tiền, chẳng phải soi chiếu lại, tự nhiên sáng tỏ. Tuy là như vậy, lại phải có việc hướng thượng, mưa lâu chẳng tạnh. Ôi!” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Một chiếc lá rơi thiên hạ đang vào thu, muốn mắt nhìn tận cùng ngàn dặm, lại phải lên một tầng lầu”. Một mảy trần nỗi, đại địa gom thâu, Gia châu đánh voi lớn, Thiểm phủ rưới trâu sắt, gã sáng mắt hợp nên làm gì sống?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Nắng hạn lâu câu đầu rèm cầu nước chẳng chảy”. Xong, Sư gõ cây gậy một cái và xuống khỏi tòa. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Tánh thấy lúc thấy, thấy chẳng phải thấy, thấy còn lìa thấy, thấy không thể kịp. Hoa rơi có ý theo nước chảy, nước chảy vô tình mến hoa rơi. Các người có thể trở lại tự nhiên không phải là các ông. Chẳng phải các ông trở lại vậy thì ai? Hận dài xuân về không nơi tìm, chẳng biết chuyển vào lại trong đây?” Sư bèn hét một tiếng, tiếp bảo: “Ba mươi năm sau chớ nói Ðức Năng Nhân dạy phá hoại trai gái nhà người”. Lại có lúc lên giảng đường, có vị Tăng hỏi: “Thế nào là đại ý của Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại?” Sư đáp: “Nhà Ðông đốt đèn, nhà Tây ngồi tối”. Lại hỏi: “Chưa xét rõ ý chỉ như thế nào?” Sư đáp: “Ngựa tiện móc yên, lừa tiện đẩy mài”. Vị Tăng ấy lễ bái. Sư bảo: “Nạp Tử lanh lợi chỉ tiêu một cái”. Và Sư bèn bảo: “Ngựa móc yên, lừa đầy mài, nạp Tử lanh lợi chỉ tiêu một cái, giả sử nhà Ðông đốt đèn sáng, chưa hẳn nhà Tây ngồi trong tối, ý chỉ Tổ sư từ Tây vức lại, hỏi làm gì? Lắm miệng A Sư tự rước họa”. Vị Tăng ấy lại hỏi: “Thế nào là Ðệ nhất nghĩa?” Sư đáp: “Ông hỏi đến cùng là Ðệ nhị nghĩa”. Lại hỏi: “Con chó có Phật tánh hay không? Triệu Châu nói không. Ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Một lần bị rắn cắn, sợ bị đứt dây giếng”. Lại hỏi: “Yến tử đàm sâu thật tướng, khéo nói pháp yếu, ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Chẳng bằng nhạn ngậm lan”. Lại hỏi: “Thế nào là Phật?” Sư đáp: “Quạ rùa nơi cửa động Hoa dương”. Lại hỏi: “Lỗ tổ ngồi xoay mặt vách tường, ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Kim mộc thủy hỏa thổ, sao la hầu, kế đô”. Lại hỏi: “Câu có câu không, như lúc dây leo bám tựa cây là thế nào?” Sư đáp: “Làm giặc tâm người trống rỗng”. Lại hỏi: “Quốc sư ba lần gọi Thị giả, lại làm sao sống?” Sư đáp: “Ðánh trống khỉ múa, trống hư khỉ chạy”. Ðến ngày 18 tháng 07 năm Bính dần (1146), Sư vời gọi môn nhân pháp thuộc, dặn dò Trưởng lão Tông Phạm, giao phó hậu sự. Qua ngày hôm sau, tắm gội xong, đánh chuông nhóm tập đại chúng, Sư đến tòa ngồi an nhiên mà thị tịch. Ngày trà tỳ, mọi người đưa tiễn đều có được xá-lợi, nghinh phụng linh cốt đến dựng tháp an táng tại Cổ sơn.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.