0-TS Huệ Huy Tự Đắc

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Huệ Huy Tự Đắc -
Sanh#1Năm Sanh1097
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Hoằng Trí Chánh Giác
Đồng Môn ♂️ 0-TS Tuyết Đậu Toại, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Tư Triệt, ♂️ 0-TS Thạch Môn Pháp Chân, ♂️ 0-TS Năng Nhân Lý, ♂️ 0-TS Bảo Phước Ngộ, ♂️ 0-TS Ô Cự Quang, ♂️ 0-TS Trường Lô Lâm, ♂️ 0-TS Đại Hồng Pháp Vi, ♂️ 0-TS Phụng Hoàng Thế Dao, ♂️ 0-TS Quảng Tuệ Pháp Thông, ♂️ 0-TS Thiện Quyền Pháp Trí, ♂️ 0-TS Tuyết Đậu Tự Tông, ♂️ 0-TS Thụy Nham Pháp Cung
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Tuyết Đậu Hoán, ♂️ 0-TS Hoa Tạng Tuệ Tộ, ♂️ 0-TS Trượng Tích Sùng Kiên, ♂️ 0-TS Tuyết Đậu Đức Vân
Tịch#1Viên Tịch1183

Hành Trạng

3. Thiền sư Tuệ Huy ở Tịnh từ. Thiền sư Tuệ Huy - Tự Ðắc ở Tịnh từ tại Hàng châu. Vốn người dòng họ Trương ở Cối kê. Thủa nhỏ, Sư đến nương tựa Thiền sư Ðạo Ngưng - Trừng Chiếu, xuất gia, thọ giới Cụ túc. Năm hai mươi Sư đến tham hỏi Thiền sư Chân Hiết ở Trường lô, hơi có chút sở chứng, Sư trở về lại quê, bái yết Thiền sư Hoằng Trí (Thiền sư Giác). Thiền sư Giác nêu cử: “Ðang trong sáng có tối chẳng vì tối cùng gặp. Ðang trong tối có sáng, chẳng vì sáng cùng thấy” hỏi Sư. Sư đáp không khế hợp, vừa mới đầu đêm, Sư định trở về đốt hương trước Thánh tăng, mà Thiền sư Giác cũng vừa đến đó, Sư trông thấy bèn rõ suốt câu thoại trước. Ngày hôm sau vào thất, Thiền sư Giác nêu cử: “Kham thán ngày đi dáng như ngọc, kham thán lúc về tóc tợ sương” hỏi Sư. Sư đáp: “Kia vào lìa, kia ra nhỏ”. Từ đó, hỏi đáp không ngưng trệ. Thiền sư Giác hứa thuận Sư là Chân tử trong thất. Năm Ðinh Tỵ (1137) thuộc trong niên hiệu Thiệu Hưng (1131- 1163) thời Nam Tống, Sư ra hoằng hóa, khai đường giảng pháp tại Bổ đà, rồi đổi dời đến Vạn thọ, Cát tường, Tuyết đậu. Ðến năm Thuần Hy thứ ba (1176) thời Nam Tống, Sư có được sắc chiếu bổ nhậm ở Tịnh Từ. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Gió Bắc rét run quét rừng lạnh, lá rơi về cội bày lòng son, muôn phái Triều Tông thuyền đến bờ, sáu cửa rỗng sáng giới đầu châm, vốn thành hiện chớ tìm nơi khác, tánh địa rỗng rang sáng xưa nay. Ngoài cửa lạnh tiêu động sắc xuân, bốn núi lẫn làm rồng gỗ ngâm”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thích-ca Lão Tử cùng Lý hết tánh, từ kim khẩu tuyên bày giáo phát, suốt một đời, chân xoay ngọc chuyển, bị người gọi là giấy cũ lau chùi bất tịnh. Tổ sư Ðạt-ma, đem giáo pháp Nhất thừa, chỉ thẳng riêng truyền, suốt chín năm ngồi xoay mặt vách tường, chẳng lập văn tự, bị người gọi là Bà-la-môn quán nhìn tường vách. Hãy nói làm sao sống giẫm trải mà khỏi bị người bên cạnh chỉ nêu chú bày, nạp choàng trùm đầu, muôn sự thôi nghỉ. Khi ấy sơn Tăng đếu chẳng biết”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ổ biết gió, hang biết mưa. Ngọt thì ngọt chừ, đắng thì đắng, chẳng cần tính sánh lại suy lường, năm lần năm xưa nay là hai mươi lăm (5.5 = 25). Muôn ban thi thiết đến bình thường. Ðây là tùng lâm no đủ câu tham. Các người có ủy thác chăng? Lão già miền quê không biết sức Nghiêu Thuấn, tung tung trống đánh tế thần sông”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thấn của cốc, yếu của xu, trong ấy hẹn tựa tham xoay đường đắc diệu, mây tuy động mà thường nhân, trăng tuy mờ mà càng chiếu. Khách chủ giao tham, chánh thiên liêm đáo. Mười châu xuân mãn hoa điêu tàn, cây rừng san hô mặt nhật tỏ sáng”. Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là thiên trong chánh?” Sư đáp: “Mây trùm đỉnh núi trọn chẳng vày cao vợi”. Lại hỏi: “Thế nào là lại trong chánh?” Sư đáp: “Chớ cho là cá côn các kình không lông cánh, ngày nay theo đường chim bay lại”. Lại hỏi: “Thế nào là đến trong liêm?” Sư đáp: “Ứng không dấu, dụng không vết”. Lại hỏi: “Thế nào là đến trong liêm?” Sư đáp: “Người đá mặc áo sam phá đại địa vùi chôn người mặc áo vá”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Da dẻ mở rơi dứt tuyệt các phương góc, rõ ràng thân tâm một vật không, khéo vào trong Ðạo nơi sâu lắng, người ngọc ngồi ngay cưỡi xe trâu trắng, khéo rành đất ruộng bậc Ðạt giả trở về hiếm ít. Biết tình chẳng đến, chỉ chứng mới hay. Vầng mây trắng linh tinh tự chiếu, gò núi xanh vời vợi thường còn. Cơ phân sau đảnh sáng, trí hợp mắt kiếp trước. Do đó mà nói đường Tân phong chừ cao vợi mà sạch, động Tân phong chừ lắng trong trút rót. Người lên lên chừ không lay động, người đi đi chừ chẳng vội nhanh. Sân nhà tuy có mà hiếm người đến, rừng suối chẳng nuôi lớn cây tầm thường. Chư vị Thiền đức! Hướng thượng một trứ, tôn quý khó rõ, trên điện lưu ly chẳng xưng tôn, trước rèm phỉ thúy lại hợp bạn. Chánh cùng lúc nào kim chỉ xỏ thông, chân tông chẳng rơi lạc. Hợp làm sao sống mà thi thiết. Ðầy đầu tóc bạc lìa hang cốc, nửa đêm xuyên mây vào chợ ồn náo”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư nêu cử bài tụng pháp thân của Phó đại sĩ, bảo là: “Tay không nắm cái bừa, Bước bộ cưỡi trâu nước, Người theo trên cầu qua, Cầu chạy nước chẳng chảy”. Ðại sư Vân Môn nói: “Các người từ Ðông lại Tây lại Nam lại Bắc lại, mỗi mỗi đều cưỡi một con trâu nước lại. Tuy là như vậy, nhưng ngàn đầu muôn đầu, chỉ cần biết lấy một cái đầu ấy”. Và Sư bảo: “Vân Môn bình thường khô cháy đất táo, dùi bổ chẳng vào, đến trong ấy cũng kéo đất mang nước. Các người ngày nay chỉ cần muốn thấy một cái đầu ấy chăng? Sắc trời hơi lạnh mỗi tự về nhà”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư nêu cử câu thoại về gió và Phan, Sư bảo: “Nơi gió phan động nhằm bị cái mắt tức là Thượng tọa. Nơi gió phan động mất ngay. Cái mắt tức là gió và phan. Nếu chưa như vậy, chẳng phải là gió và phan chẳng phải là tâm. Nạp Tăng nhọc tự gắng dùi châm, hang phòng mưa qua khói tối sạch, nhằm nghe gió mát sinh rừng trúc. Mùa Thu năm Thuần Hy thứ bảy (1080) thời Nam Tống, Sư lui trở về ở Tuyết đậu. Ðến nửa đêm 29 tháng 11 năm Thuần Hy thứ mười (1183) thời Nam Tống, sau khi tắm rửa, Sư an nhiên thị tịch, an táng toàn thân tại phía hữu tháp Thiền sư Giác Minh.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.