0-TS Hối Đường Tổ Tâm

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Hối Đường Tổ Tâm -
Sanh#1Năm Sanh1025
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Hoàng Long Huệ Nam - Ðời Thứ 8 Tông Lâm Tế - Khai Tổ Dòng Lâm Tế Hoàng Long
Đồng Môn ♂️ 0-TS Vân Đảnh Thái, ♂️ 0-TS Cảnh Đức Bản Long, ♂️ 0-TS Càn Minh Siêu Oánh, ♂️ 0-TS Vân Môn Hy Yến, ♂️ 0-TS Cát Tường Hữu Trăn, ♂️ 0-TS Thúy Nham Bảo Vân, ♂️ 0-TS Tây Phong Chánh Tín, ♂️ 0-TS Nga Hồ Sùng Kiên, ♂️ 0-TS Phổ Ninh Tuệ Nhân, ♂️ 0-TS Thạch Cổ Ðộng Châu, ♂️ 0-TS Dõng Tuyền Dĩ, ♂️ 0-TS Kim Lật Tuệ Anh, ♂️ 0-TS Quy Tông Tấn, ♂️ 0-TS Chương Pháp Giác Tín, ♂️ 0-TS Bảo Thắng Trừng Phủ, ♂️ 0-TS Thanh Tuyền Sùng Nhã, ♂️ 0-TS Tuệ Nhật Phổ Giác, ♂️ 0-TS Tuệ Nhật Phú, ♂️ 0-TS Thăng Sơn Thiệu Nam, ♂️ 0-TS Đại Quang Ứng Tê, ♂️ 0-TS Long Khánh Lợi Nghiễm, ♂️ 0-Am Chủ Quy Tông Chí Chi, ♂️ 0-TS Hoàng Long Tự Khánh, ♂️ 0-TS Pháp Luân Văn Dục, ♂️ 0-TS Nam Hoa Quế, ♂️ 0-TS Tuệ Lâm Ðức Tốn, ♂️ 0-TS Tam Giác Tuệ Trạch, ♂️ 0-TS Ba Tiêu Nhân Kha, ♂️ 0-TS Hòa Sơn Ðức Phổ, ♂️ 0-TS Kiến Long Chiêu Khánh, ♂️ 0-TS Báo Bản Tuệ Nguyên, ♂️ 0-TS Vân Cư Nguyên Hựu, ♂️ 0-TS Bảo Ninh Viên Cơ, ♂️ 0-TS Chiếu Giác Thường Tổng, ♂️ 0-Am Chủ Tích Thúy Vĩnh, ♂️ 0-TS Đăng Vân Siêu Cập, ♂️ 0-TS Hựu Thánh Pháp Cư, ♂️ 0-TS Thắng Nghiệp Duy Hưởng, ♂️ 0-TS Vân Phong Ðạo Viên, ♂️ 0-TS Bảo Cái Tử Cần, ♂️ 0-TS Hưng Quốc Khế Nhã, ♂️ 0-TS Linh Ẩn Ðức Tư, ♂️ 0-TS Hoa Dược Nguyên Cung, ♂️ 0-TS Linh Thứu Tuệ Giác, ♂️ 0-TS Liêm Tuyền Ðàm Tú, ♂️ 0-TS Cửu Tông Pháp Minh, ♂️ 0-TS Thanh Ẩn Thanh Nguyên, ♂️ 0-TS Đại Quy Dĩnh Thuyên, ♂️ 0-TS Linh Nham Trọng Xác, ♂️ 0-TS Ngũ Tổ Hiểu Thường, ♂️ 0-TS Thủy Nam Trí Bí, ♂️ 0-TS Tứ Tổ Pháp Diễn, ♂️ 0-TS Tam Tổ Pháp Tông, ♂️ 0-TS Khai Nguyên Tử Kha, ♂️ 0-TS Đàm Châu Thạch Sương Lâm, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Pháp Trừng, ♂️ 0-Cư Sĩ Phan Nhất, ♂️ 0-TS Diên Khánh Hồng Chuẩn, ♂️ 0-TS Am Chủ Tích Thúy Hà, ♂️ 0-TS Nga Hồ Thông, ♂️ 0-TS Phật Tích Ðạo Lục, ♂️ 0-TS Thắng Nghiệp Tử Quỳnh, ♂️ 0-TS Thừa Thiên Mẫn, ♂️ 0-TS Đại La Trí Cao, ♂️ 0-TS Tịnh Chúng Khải Mông, ♂️ 0-TS Tuyết Đậu Hạnh Duyên, ♂️ 0-TS Ngưỡng Sơn Hòa, ♂️ 0-TS Thái Bình Dao, ♂️ 0-TS Phước Nghiêm Từ Cảm, ♂️ 0-TS Đại Quy Hoài Tú, ♂️ 0-TS Bách Trượng Nguyên Túc, ♂️ 0-TS Hoàng Bá Duy Thắng, ♂️ 0-TS Huyền Sa Hợp Văn, ♂️ 0-TS Vân Cái Thủ Trí, ♂️ 0-TS Long Khánh Khánh Nhàn, ♂️ 0-TS Ngưỡng Sơn Hạnh Vỹ, ♂️ 0-TS Hưng Quốc Khoảnh, ♂️ 0-TS Lặc Đàm Hồng Anh, ♂️ 0-TS Tuyên Minh Phật Ấn, ♂️ 0-TS Chương Giang Nguyên, ♂️ 0-TS Thượng Lam Thuận, ♂️ 0-TS Lặc Đàm Khắc Văn
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-Thị Lang Hàn Tông Cổ, ♂️ 0-Ðại Phu Ngô Trung Lập, ♂️ 0-Cư Sĩ Vương Chánh Ngôn, ♂️ 0-TS Ý Thiền, ♂️ 0-Cư Sĩ Công Lập Hạ Ỷ, ♂️ 0-TS Pháp Hải Pháp Tông, ♂️ 0-Cư Sĩ Bành Nhữ Lệ, ♂️ 0-TS Thiền Lâm Hy Quảng, ♂️ 0-TS Tây Phong Tố, ♂️ 0-TS Nam Đăng Pháp An, ♂️ 0-TS Hiển Thân Như Giám, ♂️ 0-TS Quán Âm Giác Cần, ♂️ 0-TS Từ Hy Ðức Chiêm, ♂️ 0-TS Song Phong Như Dĩnh, ♂️ 0-TS Đại Long Thế Hòa, ♂️ 0-TS Lộ Uyển Tư Tề, ♂️ 0-TS Vô Vi Duy Tông, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Pháp Hải, ♂️ 0-TS Vân Cái Sư Triệu, ♂️ 0-TS Thiên Trụ Tu Tỉnh, ♂️ 0-TS Đình Hy Trí Dung, ♂️ 0-TS Vân Môn Bảo Tuyên, ♂️ 0-TS Tập Phước Bảo Nghiêm, ♂️ 0-TS Cảnh Đức Tuệ Anh, ♂️ 0-TS Hiển Minh Ðạo Xướng, ♂️ 0-TS Kiến Long Duy Khánh, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Ðiển, ♂️ 0-Cư Sĩ Bí Thư Ngô Tuân, ♂️ 0-TS Hoàng Long Như Hiểu, ♂️ 0-Cư Sĩ Thái Sử Hoàng Ðình Kiên, ♂️ 0-TS Đại Quy Duy Ích, ♂️ 0-TS Từ Vân Ðạo, ♂️ 0-TS Hoàng Long Trí Minh, ♂️ 0-TS Hộ Quốc Cảnh Tân, ♂️ 0-TS Song Phong Cảnh Tề, ♂️ 0-TS Quy Sơn Hiểu Tân, ♂️ 0-TS Song Lãnh Hóa, ♂️ 0-TS Tam Thánh Kế Xương, ♂️ 0-TS Giáp Sơn Hiểu Thuần, ♂️ 0-TS Thanh Nguyên Duy Tín, ♂️ 0-TS Lặc Đàm Thiện Thanh, ♂️ 0-TS Thắng Duyên Cư Trí, ♂️ 0-Cư Sĩ Quán Văn Vương Thiều, ♂️ 0-TS Đạo Ngô Trọng Viên, ♂️ 0-TS Bảo Phước Bản Quyền, ♂️ 0-TS Hoàng Long Ngộ Tân, ♂️ 0-TS Duy Thanh Linh Nguyên
Tịch#1Viên Tịch1100

Hành Trạng

1. Thiền sư Tổ Tâm ở Hoàng long. Thiền sư Tổ Tâm - Bảo Giác ở Hối đường - Hoàng long tại Hồng châu, vốn người dòng họ Ổ ở Thỉ hưng - Nam hùng. Thuở thiếu thời, Sư là một thư sinh rất có tiếng tăm. Ðến năm mười chín tuổi, mắt bị mù lòa, song thân hứa cho Sư xuất gia, bỗng nhiên liền sáng trở lại thấy được mọi vật. Sư mới sang nương tựa Sa-môn Huệ Toàn ở chùa Long sơn, qua năm sau, khảo xét kinh học, mà Sư riêng hiến dâng bài thơ bèn được xuống tóc, tiếp tục nương ở thọ học, nhưng tại viện chẳng phụng trì giới luật, một ngày nọ Sư bèn bỏ nơi đó vào Tùng lâm bái yết Thiền sư Duyệt ở Vân phong, dừng ở suốt ba năm, nếm trải mọi thứ cực nhọc, Sư bèn cái từ Thiền sư Duyệt mà ra đi. Thiền sư Duyệt bảo: “Ông hẳn đến nương tựa Nam Công (Thiền sư Tuệ Nam) ở Hoàng nghiệt”. Sư bèn đến Hoàng nghiệt , lại trải qua bốn năm biết có mà cơ chẳng phát. Sư lại giả từ mà lên Vân phong, gặp lúc Thiền sư Duyệt đã viên tịch. Nhân đó, Sư dừng lại ở Thạch sương mà không chỗ dự tham phỏng quyết, Sư thử đọc xem “Truyền Ðằng” đến có vị Tăng hỏi Thiền sư Ða Phước: “Thế nào là một rừng trúc Ða phước?” Ða Phước đáp: “Một cành hai cành liệu”. Lại hỏi: “Chẳng hiểu”. Ða Phước đáp: “Ba cánh bốn cành cong”. Khi ấy bất chợt Sư thân gần thấy hai thầy. Xong, chẳng trở về Hoàng nghiệt, vừa mới trải bày tọa cụ. Thiền sư Tuệ Nam cười bảo: “Con đã vào nhà Ta vậy”. Sư cũng nhảy nhót tự mừng liền ứng tiếng đáp là: “Việc lớn từ trước lại như vậy. Sao Hòa thượng dùng dạy người xem lời dưới câu thoại trăm kế sưu tầm?” Thiền sư Tuệ Nam bảo: “Nếu chẳng khiến ông nghiên cứu tìm cầu đến nơi không dụng tâm tự thấy tự chịu như thế tức là ta chôn lấp ông vậy”. Sư thong dong rảo bước bơi lôïi trên đất dưới nước trong chúng, luôn luôn đến tham quyết ngữ cú của Vân môn. Thiền sư Tuệ Nam bảo: “Biết là việc bên cạnh nên thôi nghỉ, ông dùng nhiều công phu làm gì?” Sư đáp: “Chẳng như vậy. Chỉ có mảy may nghi ngờ, chẳng đạt đến vô hoc, sao có thể bảy dọc tám ngang trời xoay đất chuyển ư?” Thiền sư Tuệ Nam bèn chấp nhận đo. Thế rồi, Sư lại đến bái yết Thiền sư Chân ở Thúy nham, Thiền sư Chân cũng nói điều rất kỳ đặc. Sư lại nương tựa hai năm thì Thiền sư Chân thị tịch, Sư mới trở về lại Hoàng nghiệt. Thiền sư Tuệ Nam bèn phân tòa để sư tiếp nhận hàng hậu lai. Ðến lúc Thiền sư Tuệ Nam thị tịch, Sư bèn ở tại Hoàng long. Sư đến bái yết Thiền sư Nguyệt ở Lặc đàm. Thiền sư Nguyệt dùng tinh nghĩa kinh luận mà nhập thần, nghe những bậc đồng hàng ở các phương cười đó, mới cho là: “Chính chẳng tự thôi đi vậy, mới xuống cầm gỗ vào cốc sâu ư?” Sư bảo: “Kia lấy sở đắc của hữu đắc mà đón trước rào sau, còn ta dùng cái học của vô học chầu Tông trăm sông”. Ðến trung niên, vì cảm mắc chút bệnh, Sư bèn ngụ ở chữa trị tại Chương giang. Bấy giờ, Chuyển vận phán quan Hạ Ỷ Công Lập có nhã ý học thiền, gặp Dương Kiệt Thứ Công mà than rằng: “Tôi đến Giang tây mà hận chẳng biết Nam Công!” Thứ Công bảo là: “Có Thượng tọa Tổ Tâm hiện ở tại Chương giang, ông có thể tự chấp nhận, chẳng đợi phải thấy gặp Thiền sư Tuệ Nam vậy”. Lập Công bèn đến gặp thấy Sư, đàm nói kịch liệt, tâm thần ý tứ thoáng mở. Ðến lúc luận bàn về Triệu luận hiểu muôn vật là tự mình là tình lẫn vô tình cùng đồng một thể. Khi ấy có con chó đang nằm dưới án hương, Sư bèn lấy thước đè đánh con chó và đánh vào án hương đồng thời bảo: “Chó có tình thức thì liền đi, còn án hương không có tình thức nên tự đứng. Vậy tình và vô tình sao được đồng một thể?” Công Lập bèn không đối đáp được gì. Sư bảo: “Mới vào tư duy bèn thành pháp thừa, nào từng hiểu muôn vật là tự chính mình ư?” Sư lại từng cùng chư Tăng đàm luận về Duy-ma với ba vạn hai ngàn tòa báu sư tử họa vào trong thất nhỏ tại thành Tỳ-da-ly, cớ sao không ngăn ngại? Có phải bởi vì Duy-ma hiện sức thần ư? Hay là riêng gá về Dị thuật ư? Phàm các pháp khó tin nên hiện những điềm lành như vậy. Những người có khả năng tin hiểu mới biết các vật vốn có từ xưa lại, cớ sao lại khiến càng tin? Sư bảo: “Nếu người không tin, vào nhỏ ắc phòng ngại lớn. Tuy là đã có tin, pháp từ đâu mà khởi ư?” Sư lại có bài kệ tụng là: “Trước cửa lầu các mới kiểm niệm, chẳng phải khảy móng tay đã mở cục, Thiện Tài một lần đi không tin tức, ngoài cửa xuân đến có tự xanh”. Sư chỉ dạy các pháp thân gần thiết thực, phương tiện kim mầu đại hoại như vậy! Từ khi Thiền sư Tuệ Nam thị tịch, Sư nối tiếp trú trì suốt mười hai năm, nhưng tâm tánh Sư chân suất, chẳng vui theo việc nghiệp vụ, qua năm lượt mong cầu thoát đi mới được tạ từ để nhàn cư, mà các hàng Học giả lại càng thân gần đông nhiều. Có Tạ Cảnh Ôn Sư Trực đến trấn thú tại Ðàm châu, thấy Ðại quy hoang trống mới thỉnh mời Sư đến ở, như ba lần Sư đều từ chối chẳng đến. Lại nữa, Chúc giang tây chuyển vận. Pháp quan Bành Nhữ Lệ Khí Tư hỏi Sư bởi ý gì mà chẳng đến Trường sa? Sư đáp: Mong được thấy gặp Tạ Công chớ chẳng mong nhận lãnh lấy Ðại quy. Từ Mã Tổ Bách Trượng trở về trước không việc trú trì, các Ðạo nhân lần lượt tìm đến nơi không nhân tịch chẳng đến bến bờ mà thôi. Về sau tuy có trú trì, nhưng các bậc vương quan tôn trọng kính lễ là thầy của trời người. Nay thì không như vậy. Treo danh nơi phủ quan như dân có Hộ tịch, thẳng khiến Ngũ bách truy tìm đó vậy. Ðây đâu có thể lại làm vậy?” Sư Trực nghe thế không dám đem việc nơi viện để khuất phục Sư, chỉ mong một lần được thấy gặp Sư. Sư bèn đến Trường sa, Sư Trực mong thọ học pháp yếu, Sư bèn nêu cử giềng mối, đại khái là: “Ba thừa mười hai phần giáo lại đồng như nói ăn để chỉ bày cho người biết mùi vị thức ăn. Ðã nhân người khác nói về thức ăn ấy, thì cốt yếu ở chính tự mình đích thân thử nếm. Ðã tự chính mình đích thân tử nếm, bèn có thể mùi vị thức ăn ấy là ngọt là đắng, là mặn là dạt v.v... Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật cũng là như vậy. Chân tánh đã nhân nơi văn tự mà hiển bày, cốt yếu phải tự chính mình thân gần thấy được. Nếu hay thân gần thấy được bèn có thể rõ biết trước mắt mình là chân là vọng là sinh là tử, đã hay rõ biết chân vọng sinh tử, phải quán chiếu trở lại tất cả ngữ ngôn văn tự đều là nói bày biểu hiện đều là nghĩa không thật. Như nay không rõ bệnh ở nơi nào? Bệnh tại thấy nghe hay biết, là biết không như thật cho đến ngằn mé chân thật. Nhận sự thấy nghe hay biết đây là chỗ thấy của tự chính mình, rất là khác biệt. Thấy nghe hay biết đây đều nhân tiền trần mà có phân biệt. Nếu không có cảnh giới tiền trần, tức thấy nghe hay biết đây là đồng với lông rùa sừng thỏ, đều không chỗ kết quy”. Sư Trực được nghe điều chưa từng nghe. Sư lại giải đáp cho Hàng thị lang Tông xưa trước hỏi, là: “Nhân dẫn dụ của thời cưa, khai ngộ rỗng rang không nghi ngại, chỉ bởi từ vô thủy đến nay, tập khí chưa thể dứt trừ - hết - Nhưng ngoài tâm không có pháp thừa, không biết tập khí phiền não là vật gì mà muốn hết đó. Nếu khởi tâm ấy, tức vụt nhiên nhận giặc làm con vậy. Từ trước đến đây chỉ có ngôn, cho đến tùy bệnh mà bày thuốc, giả sử như có tập khí phiền não, cũng chỉ lấy Tri kiến của Như Lai mà chữa trị đó, đều là phương tiện khéo léo nói năng mà dẫn dụ. Nếu là khẳng định có tập khí có thể chữa trị, tức là ngoài tâm có pháp mà có thể hết đó vậy. Thí như rùa linh kéo đuôi nơi đường, phẩy vết vết sinh. Có thể gọi là đem tâm dụng tâm chuyển bệnh thấy càng sâu nặng. Giả sử hay thấu rõ được tâm, ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm. Tâm và pháp đã là không, lại muốn chỉ dạy ai hết đó ư?” Có lúc Sư vân du đến Kinh đô, Phò mã Ðô úy Vương Công Tiên rất mực kính lễ nghinh đón Sư đến ở am tại ngoài Quốc môn. Lâu sau, theo hướng Nam, Sư lại đến Lô sơn. Có Bành Khí Tư đang trấn thú tại Cửu giang, cùng gặp gỡ, Khí Tư thong dong hỏi Sư: “Lúc mạng người sắp chung có chỉ quyết gì chăng?” Sư đáp: “Có”. Khí Tư lại nói: “Mong được nghe noi điều đó!” Sư bảo: “Ðợi đến lúc Khí Tư chết tức sẽ nói”. Khí Tư vụt đứng dậy, càng thêm cung kính nói: “Việc này phải là Hòa thượng mới được. Bởi nơi bốn phương các hàng công khanh hợp tức ngàn dặm ứng đó, chẳng hợp thì thước tấc không đến”. Sư từng có làm bài kệ rằng: “Chẳng ở chùa Triều Ðường Nhàn làm Tăng đời Tống Bờ sống ba sự nạp Xưa cũ một cành leo Khất thực tùy duyên đi Gặp núi mặc ý lên Cùng gặp chớ cùng cười Chẳng là Năng Lãnh nam”. Có thể tưởng thấy được nhân vật phẩm cách con người của Sư vậy. Ðến lúc tuổi tác đã cao, Sư lại dời am sâu vào trong cầu treo, bặt tuyệt các học giả lại hơn hai mươi năm. Thường đến ngày húy kỵ Nam Công thị tịch, Sư làm kệ tụng rằng: “Người xưa lúc đi là ngày nay Ngày nay y nhiên người chẳng lại Nay đã chẳng lại, xưa chẳng đi Mây trắng dòng sông không bồi hồi Ai bảo trong thước cân bằng thẳng lại có cong? Ai bảo vật lý đồng chủng gai lại được thóc? Ðáng thương người rong đuổi trong thiên hạ Sáu lần sáu xưa nay là ba mươi sáu”. Tùng lâm truyền đó để khắc giống Nam Công theo người điên đảo lời Nam đẩu bảy, Bắc đẩu tám. Ðến nửa đêm 16 tháng 11 năm Nguyên Phù thứ ba (1110) thời Bắc Tống, Sư thị tịch, hưởng thọ bảy mươi sáu tuổi, năm mươi lăm Hạ lạp. Phong sắc Sư hiệu là “Bảo giác”. An táng tại phía Ðông của tháp Nam Công. Gọi là “Song tháp”.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.