0-TS Hoàng Long Ngộ Tân

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Hoàng Long Ngộ Tân -
Sanh#1Năm Sanh1044
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Hối Đường Tổ Tâm
Đồng Môn ♂️ 0-Thị Lang Hàn Tông Cổ, ♂️ 0-Ðại Phu Ngô Trung Lập, ♂️ 0-Cư Sĩ Vương Chánh Ngôn, ♂️ 0-TS Ý Thiền, ♂️ 0-Cư Sĩ Công Lập Hạ Ỷ, ♂️ 0-TS Pháp Hải Pháp Tông, ♂️ 0-Cư Sĩ Bành Nhữ Lệ, ♂️ 0-TS Thiền Lâm Hy Quảng, ♂️ 0-TS Tây Phong Tố, ♂️ 0-TS Nam Đăng Pháp An, ♂️ 0-TS Hiển Thân Như Giám, ♂️ 0-TS Quán Âm Giác Cần, ♂️ 0-TS Từ Hy Ðức Chiêm, ♂️ 0-TS Song Phong Như Dĩnh, ♂️ 0-TS Đại Long Thế Hòa, ♂️ 0-TS Lộ Uyển Tư Tề, ♂️ 0-TS Vô Vi Duy Tông, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Pháp Hải, ♂️ 0-TS Vân Cái Sư Triệu, ♂️ 0-TS Thiên Trụ Tu Tỉnh, ♂️ 0-TS Đình Hy Trí Dung, ♂️ 0-TS Vân Môn Bảo Tuyên, ♂️ 0-TS Tập Phước Bảo Nghiêm, ♂️ 0-TS Cảnh Đức Tuệ Anh, ♂️ 0-TS Hiển Minh Ðạo Xướng, ♂️ 0-TS Kiến Long Duy Khánh, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Ðiển, ♂️ 0-Cư Sĩ Bí Thư Ngô Tuân, ♂️ 0-TS Hoàng Long Như Hiểu, ♂️ 0-Cư Sĩ Thái Sử Hoàng Ðình Kiên, ♂️ 0-TS Đại Quy Duy Ích, ♂️ 0-TS Từ Vân Ðạo, ♂️ 0-TS Hoàng Long Trí Minh, ♂️ 0-TS Hộ Quốc Cảnh Tân, ♂️ 0-TS Song Phong Cảnh Tề, ♂️ 0-TS Quy Sơn Hiểu Tân, ♂️ 0-TS Song Lãnh Hóa, ♂️ 0-TS Tam Thánh Kế Xương, ♂️ 0-TS Giáp Sơn Hiểu Thuần, ♂️ 0-TS Thanh Nguyên Duy Tín, ♂️ 0-TS Lặc Đàm Thiện Thanh, ♂️ 0-TS Thắng Duyên Cư Trí, ♂️ 0-Cư Sĩ Quán Văn Vương Thiều, ♂️ 0-TS Đạo Ngô Trọng Viên, ♂️ 0-TS Bảo Phước Bản Quyền, ♂️ 0-TS Duy Thanh Linh Nguyên
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Tuệ Tuyên, ♂️ 0-TS Ninh Quốc Ðạo Tông, ♂️ 0-TS Khúc Xích Tông Duệ, ♂️ 0-TS Tiến Phước Tuệ Liên, ♂️ 0-TS La Hán Thủ Tiết, ♂️ 0-TS Tây Hiền Ðàm, ♂️ 0-TS Không Thất Trí Thông, ♂️ 0-TS Trúc Viên Ðạo Châu, ♂️ 0-TS Dương Châu Tề Mật, ♂️ 0-TS Thiên Ninh Tuệ Phó, ♂️ 0-TS Chung Sơn Ðạo Long, ♂️ 0-TS Thượng Phong Tổ Tú, ♂️ 0-TS Tánh Không Diệu Phổ, ♂️ 0-TS Cửu Đảnh Tuệ Tuyền, ♂️ 0-TS Nam Đãng Pháp Không, ♂️ 0-TS Hòa Sơn Huệ Phương
Tịch#1Viên Tịch1115

Hành Trạng

1. Thiền sư Ngộ Tân ở Hoàng long. Thiền sư Ngộ Tân ở Hoàng long, vốn người dòng họ Vương ở Khúc giang, Thiều châu. Dáng dấp Sư khôi ngô, mặt đen tướng trạng như Phạm Tăng. Sư nương tựa viện Phật-đà mà xuống tóc xuất gia, Sư với tiết tháo bao trùm đại chúng, khéo mặt chiết phục người, mới đầu đến bái yết Thiền sư Tú ở Thê hiền, Sư tỏ vẻ mặt sắt. Thiền sư Tú hỏi: “Thượng tọa người ở đâu?” Sư đáp: “Ở Quảng nam, Thiều châu”. Lại hỏi: “Ðã từng đến Vân môn chưa?” Sư đáp: “Ðã có đến”. Lại hỏi: “Ðã từng đến Linh Thọ chưa?” Sư đáp: “Ðã từng đến”. Lại hỏi: “Thế nào là cành nhánh của Linh thọ?” Sư đáp: “Dài đến cùng tự dài, ngắn đến cùng tự ngắn”. Thiền sư Tú bảo: “Gióng Man ở Quảng nam chớ nói loạn”. Sư nói: “Ðến Bắc lừa chỉ nghĩ gì?” Xong, Sư phẩy tay áo mà đi ra. Thiền sư Tú rất mến quý, mà Sư chẳng hề lưu tâm để ý, mới đến Hoàng long, bái yết Thiền sư Bảo Giác, đàm nói biện luận không đạt đến khai ngộ, Thiền sư Bảo Giác bảo: “Nếu nghề ấy dừng ở đây ư? Là cố nói ăn vậy. Hắn là người hay ăn no ư?” Sư quẩn bách không còn gì để tiến tới, mới thong dong thưa: “Ngộ Tân tôi đến đây cung bẻ tên hết. Xin Hòa thượng từ bi chỉ cái nơi An lạc!” Thiền sư Bảo Giác bảo: “Một mảy trần bay che cả bầu trời, một hạt cải rơi mà phủ cả trái đất, nơi an lạc rất kỵ Thượng tọa quá lăm nhiều tạp nhạp láo nháo, ngay phải dứt chết toàn tâm từ vô lượng kiếp lại mới có thể được vậy”. Sư vâng lời, bèn đi ra. Một ngày nọ ngồi im lặng dượi bảng, gặp lúc vị Tri sự đánh các Hành giả, Sư nghe tiếng cây gậy, bỗng nhiên đại ngộ, phấn khởi quên cả mang giày chạy đến phương trượng tìm gặp Thiền sư Bảo Giác, tự vui mừng nói là: “Người trong thiên hạ đều là học được đến cùng. Còn tôi là người được ngộ đến cùng”. Thiền sư Bảo Giác cười bảo: “Tuyển người làm Phật được đỗ đầu khoa, sao có thể đáng vậy”. Từ đó Sư mang hiệu là “Tử Tâm Tẩu (ông già trái tim đã chết)”, Tấm bản đề nơi Sư ở là “Tử Tâm Thất”. Bởi sự thức ngộ của Sư vậy. Lâu sau, Sư giã từ nơi đó, vân du đến Tương tây. Bấy giờ Thiền sư Triết đang thống lãnh tại Nhạc lộc, Sư bèn sang đến đó. Thiền sư Triết hỏi: “Là phàm hay Thánh?” Sư đáp: “Chẳng phải phàm, chẳng phải Thánh”. Lại hỏi: “Vậy là gì?” Sư đáp: “Dán cao mắt”. Lại hỏi: “Thế nào là Nam sơn mây nổi, Bắc sơn mưa đổ?” Sư đáp: “Tạm nói là phàm là Thánh”. Lại bảo: “Tránh sao trên đầu rộng dài, dưới chân rộng dài”. Sư ngửa mặt lên mái nhà hét thở một hơi dài. Thiền sư Triết bảo: “Hơi thở gấp giết chết người”. Sư đáp: “Vừa phải”. Rồi bèn rủ áo đi ra. Sư lại đến bái yết Thiền sư Ngộ ở pháp đường. Thiền sư Ngộ hỏi: “Gần đây vừa xa lìa nơi nào?” Sư đáp: “Tôi từ Hoàng long đến”. Lại hỏi: “Vậy có thấy Thiền sư Tâm chăng?” Sư đáp: “Có thấy”. Lại hỏi: “Thấy nơi nào?” Sư đáp: Thấy nơi ăn cháo ăn cơm”. Thiền sư Ngộ liền rút gân lửa trong lò ra hỏi: “Cái này lại làm sao sống?” Sư kéo thoát gân lửa bèn đi. Mới đầu, Sư ở Vân nham, thế rồi chuyển dời đến ở Thúy nham. Tại Thúy nham xưa trước có Dâm từ, mọi người trong làng quê đến cầu đảo, cúng tế rượu thịt ô uế không ngày nào ngưng nghỉ. Sư bảo vị Tăng tri sự pha hủy, vị tăng Tri sự từ chối cho là không dám rước họa. Sư tức giận bảo: “Nếu như có khả năng gây họa thì tôi đây sẽ gánh chịu”. Xong tự thân Sư phá hủy. Bỗng chốc có con trăn lớn cuộn nằm bên trong ngẩng đầu tỏ vẻ tướng dáng ăn nuốt. Sư quát mắng, nó bèn ẩn trốn đi, Sư ngủ yên không gì xảy ra cả. Sau đó, Sư lại nhận lãnh Vân nham tạo lập kinh tạng, Thái sư Hoàng Công Ðình vì làm bài ký, có đem mộ chí của người thân ông ta khắc ghi vào sau lưng bia, Sư tức giận mắng rằng: “Lấn lướt xem thường chẳng lánh họa như vậy ư?” Sư nói chưa dứt lời, bỗng có ánh sáng chớp vụt xuyên qua thất, sấm đánh từ cửa vào bẻ xóa phần giữa sau lưng bia, các dòng mộ chí thấy đó đã trở thành tro bụi, mà tạng ký vẫn an nhiên, không tổn hại gì. Về sau, Sư chuyển dời đến ở Hoàng long, Học giả nhóm tập đông nhiều. Sư lấy cớ bệnh mà lùi ẩn, ban đêm tiểu tham hối đường dựng đứng cây phất trần mà bảo: “Nhìn, nhìn, cây phất trần bệnh, Tử Tâm bệnh, cây phất trần an, Tử Tâm an, cây phất trần xuyên ngay Tử Tâm, Tử Tâm xuyên ngay cây phất trần, chánh ngay lúc ấy gọi cây phất trần chánh là Tử Tâm, gọi làm Tử Tâm lại là cây phất trần. Rốt cùng gọi làm gì?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Cố nắm phải quấy đến biện ta, sống nổi xuyên tạc chẳng liên can cùng”. Có người xin hỏi câu cuối cùng. Sư bèn cho bài kệ rằng: “Một câu nói cuối cùng Ngay phải dứt đường tâm Cửa sáu căn đã không Muôn pháp chẳng sinh diệt. Ngay đó thấu suốt nguồn Chẳng phải cầu giải thoát Bình sinh mến người mắn Chỉ bởi ham sống hoài”. Ðến chiều 13 tháng 12 năm Chánh Hòa thứ năm (1115) thời Bắc Tống, nhân lúc tiểu tham, Sư có nói bài kệ tụng. Qua ngày mười lăm, Sư an nhiên ngồi mà thị tịch, tin báo loan khắp, các hàng nạp Tử ở khắp mọi nơi vì đó nghẹn khóc tuông lệ. Sau khi trà tỳ có được xá-lợi năm sắc. Sư hưởng thọ bảy mươi hai tuổi, bốn mươi lăm hạ lạp. Dựng tháp tôn thờ ở phía sau Hối đường.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.