Tổ Thứ 45 – TS Dương Kỳ Phương Hội

Tiểu Sử

Danh Tánh Tổ Thứ 45 - TS Dương Kỳ Phương Hội - Ðời Thứ 8 Tông Lâm Tế - Khai Tổ Dòng Lâm Tế Dương Kỳ -
Sanh#1Năm Sanh922
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTổ Thứ 44 - TS Thạch Sương Sở Viên - Ðời Thứ 7 Tông Lâm Tế
Đồng Môn ♂️ 0-TS Vĩnh, ♂️ 0-TS Cư Sĩ Đề Hình Dương Ðiền, ♂️ 0-TS Lộc Uyển Tố, ♂️ 0-TS Cổ Điền Thiện, ♂️ 0-TS Tứ Châu Nguyên Lục, ♂️ 0-TS Tứ Châu Thiện Tập, ♂️ 0-TS Thúy Phong Trạch, ♂️ 0-TS Pháp Thạch Ðức Nhã, ♂️ 0-TS La Sơn Duy Thận, ♂️ 0-TS Bồ Đề Quang Dụng, ♂️ 0-TS Phổ Môn Hồng Trạch, ♂️ 0-TS Thừa Thiên Liễu Văn, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Ðắc Nhất, ♂️ 0-TS Vân Tế Tín An, ♂️ 0-TS Kim Cang Ðức, ♂️ 0-TS Đại La Vĩnh Ninh, ♂️ 0-TS Tư Phước Hải Thiện, ♂️ 0-TS Thạch Thất Ứng, ♂️ 0-TS Phổ Chiếu Tu Giới, ♂️ 0-TS Phước Tiến Sầm, ♂️ 0-TS Báo Bản Trừng Duyệt, ♂️ 0-TS Tịnh Từ Chí Kiên, ♂️ 0-TS Ô Long Ứng Quang, ♂️ 0-TS Tạng Viện Hạnh Nguyên, ♂️ 0-TS Thọ Ninh Chân, ♂️ 0-TS Vĩnh Lạc Duyệt, ♂️ 0-TS La Hán Cư Phụng, ♂️ 0-TS Dược Sơn Nghĩa Tiên, ♂️ 0-TS La Sơn Nhân Triệt, ♂️ 0-TS Tịnh Từ Giản Trình, ♂️ 0-TS Mạc Phụ Khánh Dư, ♂️ 0-TS Linh Ẩn Ðức Chương, ♂️ 0-TS Quảng Pháp Nguyên, ♂️ 0-TS Linh Sơn Bản Ngôn, ♂️ 0-TS Đại Quy Ðức Càn, ♂️ 0-TS Nam Phong Duy Quảng, ♂️ 0-TS Hương Sơn Uẩn Lương, ♂️ 0-TS Bách Trượng Duy Chính, ♂️ 0-TS Tương Sơn Bảo Tâm, ♂️ 0-TS Đạo Ngô Ngộ Chân, ♂️ 0-TS Đại Ninh Ðạo Khoan, ♂️ 0-TS Song Phong Tỉnh Hồi, ♂️ 0-TS Võ Tuyền Sơn Chính, ♂️ 0-TS Tương Sơn Tán Nguyên, ♂️ 0-TS Thái Bình Ðới Hưu, ♂️ 0-TS Thiên Đồng Thanh Toại, ♂️ 0-TS Lạc Phố Cảnh Thiều, ♂️ 0-TS Hoàng Long Huệ Nam - Ðời Thứ 8 Tông Lâm Tế - Khai Tổ Dòng Lâm Tế Hoàng Long, ♂️ 0-TS Thúy Nham Khả Chân
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Pháp Thạch Hạo Thiền, ♂️ 0-TS Pháp Thạch Hạnh Thuyên, ♂️ 0-TS Sùng Phước Thiện Ðăng, ♂️ 0-TS Pháp Luân Duy Nhất, ♂️ 0-TS Khâm Sơn Trí Nhân, ♂️ 0-TS Quân Sơn Thủ Tốn, ♂️ 0-TS Trường Khánh Hiển Quỳnh, ♂️ 0-TS Sơn Chủ Ðông Lâm Úc, ♂️ 0-Cư Sĩ Tỷ Bộ Tôn, ♂️ 0-TS Thạch Sương Thủ Tôn, ♂️ 0-TS Bảo Ninh Nhân Dũng, ♂️ Tổ Thứ 46 - TS Bạch Vân Thủ Đoan - Ðời Thứ 9 Tông Lâm Tế, ♂️ TS Đồ Lăng Huyện Úc
Tịch#1Viên Tịch1054

Hành Trạng

2. Thiền sư Phương Hội ở Dương kỳ. Thiền sư Phương Hội ở Dương kỳ, vốn dòng họ Sinh lãnh , người xứ Nghi xuân thuộc Viên châu. Thuở thiếu thời, sư Cảnh Mẫn khôi hài, đàm nói đả kích rất có đạo vị, đến tuổi hai mươi chẳng vui thích theo việc bút nghiên, trốn danh thương thuế, chuyên việc khóa tối, bị không chức đáng phạt, nửa đêm Sư bèn trốn đi đến Cửu phong ở Quân châu, hoảng nhiên như nơi xưa trước đã đi qua, Sư nhìn lại chẳng nhẫn đi, bèn xuống tóc làm đại Tăng. Xem kinh nghe pháp, tâm thần cứng mạnh hội hợp, hay đau đớn tự cắt dứt, tiết tháo nương tựa dự tham ở các bậc Lão túc. Bấy giờ Thiền sư Từ Minh ở tại Nam tuyền, Sư đến hổ giúp An lạc cần khổ. Ðến lúc Thiền sư Từ Minh chuyển dời sang đạo Ngô Thạch Sương, Sư cũng tự cầu xin nhận lãnh việc quản viện, đó tuy chẳng phải là ý của Thiền sư Từ Minh mà đại chúng bàn luận tạp nhiên xưng tốt lành, cặp áo bông vào vỏ sách vàng, luôn nói khờ khạo xoa phẩy Từ Minh. Các phương lưu truyền lấy làm đáng. Thường lúc cùng cơm xong, Thiền sư Từ Minh đều leo núi, các Thiền giả đến hỏi đạo chẳng biết nơi đâu, Sư dòm ngó Thiền sư Từ Minh đi chưa về, bèn khua trống nhóm tập đại chúng. Thiền sư Từ Minh vội trở về tức giận bảo: “Tùng lâm nhỏ, buổi chiều mà cũng lên giảng tòa ư? Từ đâu mà ông có được khuôn phép này vậy?” Sư từ đáp: “Tại Phần châu buổi chiều cũng có dự tham há cũng là không khuôn phép ư?” Thiền sư Từ Minh không nói gì cả, nên mãi đến nay ở chốn Tùng lâm, Tam bác niệm tụng xong còn có dự tham là phát xuất từ đó vậy. Ðến lúc Thiền sư Từ Minh chuyển dời sang Hưng hóa, nhân đó, Sư giả từ trở về lại Cửu phong, các hàng đạo tục ở Bình thật đến núi thỉnh mời Sư về ở Kỳ dương. Bấy giờ, Trưởng lão Cần Công ở Kỳ dương không biết Sư, kinh ngạc hỏi: “Hội giám tự cũng khéo giỏi Thiền pháp ư?” Sư nhận thiệp hỏi đáp xong mới bảo: “Vậy còn có người nào hỏi câu thoại chăng? Thử ra cùng diện kiến, ngày nay tánh mạng Dương Kỳ tại trong tay các người mặc tình kéo ngang kéo ngược. Tại sao vậy? Ðại trượng phu trẻ con phải ngay giữa chúng chọn lựa, chớ nên lật trái trong đất tợ nước dưới đáy đặt để Hồ lô, phải đối trước đại chúng khám nghiệm xem có chăng, nếu không thì Dương kỳ mất lợi”. Nói xong, Sư xuống khỏi tòa. Cần Công nắm đứng lại và bảo: “Ngày nay tạm mừng được cái đồng tham”. Sư hỏi: “Ðồng tham đến việc, làm sao sống?” Cần Công đáp: “Dương Kỳ kéo cày, Cửu Phong kéo bừa”. Sư hỏi: “Chánh ngay lúc nào Dương Kỳ ở trước hay Cửu Phong ở trước?’ Cần Công im lặng không nói. Sư rập lấy đó mở bảo: “Sao gọi là Ðồng tham mà trước nay chẳng vậy?” Từ đó, tiếng tăm của Sư vang vọng khặp các phương. Sư chỉ bảo đại chúng rằng: “Không thấy một pháp là hỏa hoạn lớn”. Xong, Sư nắm lấy gậy chống mà tiếp bảo: “Xỏ qua lỗ mũi của Thích-ca và Lão Tử. Vậy làm sao sống, nói một câu thoát thân xem? Ðến nước chẳng tẩy rửa nơi nước. Nói đem lại một câu”. Ngưng giây lát, Sư tiếp bảo: “Nói vừa rồi chẳng đi đường dưới núi, quả nhiên là nghe tiếng vược kêu đứt ruột”. Và Sư lại tiếp bảo: Hết thảy trí thông không chướng ngại”. Xong, Sư lại dựng đứng gậy chống, tiếp bảo: “Cây gậy này hướng đến trước mặt các ông mà trình bày thần thông đi”. Rồi, Sư ném bỏ cây gậy mà bảo: “Ngay được đất trời xé rách, núi non lay động. Hiểu ư? Chẳng thấy đạo Nhất thiết trí trí tịnh”. Xong, Sư vỗ vào thẳng sàn mà bảo: “Ba mươi năm sau chớ nói Kỳ dương đầu rồng đuôi rắn”. Sư Ðề cương chấn lãnh đại loại như Vân môn” Sư lại hỏi vị Tăng vừa đến rằng: “Mây sâu đường hẹp, giá cao từ đâu lại?” Vị Tăng ấy đáp: “Trời không bốn vách tường”. Sư hỏi: “Ðạp phá đã hết bao nhiêu đôi giày cỏ?” Vị Tăng ấy bèn hét. Sư hỏi: “Một tiếng hét hai tiếng hét, sau đó làm sao sống?” Vị Tăng ấy nói: “Trong lão Hòa thượng này rất là bận rộn”. Sư bảo: “Cây gậy chẳng có ở đây, hạy tạm ngồi uống trà!” Và Sư hỏi lại vị Tăng ấy rằng: “Ðống lá rơi , mây sáng sớm lìa xứ nào?” Vị Tăng ấy đáp: “Quán m”. Sư hỏi: “Dưới gót cẳng chân Quán m một câu làm sao sinh, nói?” Vị Tăng ấy đáp: “Vừa lại cùng thấy xong”. Sư nói: “Cùng thấy việc đến cùng làm sao sống?” Vị Tăng ấy không trả lời. Sư bảo: “Thượng tọa thứ hai thay tham đầu nói xem”. Vị Tăng ấy cũng không đối đáp. Sư bảo: “Ðây kia cùng dốt đặt”. Sư khám nghiệm bén nhọn, căn cơ lại đồng loại như Nam viện. Năm Khánh Lịch thứ sáu (1046) thời Bắc Tống, Sư chuyển dời sang núi Vân cái ở Ðàm châu, đem chánh phái Lâm Tế giao giữ giềng mối.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.