Tiểu Sử
|
|||
| Danh Tánh | TS Điểu Khòa Đạo Lâm -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 741 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | TS Kính Sơn Đạo Khâm - Khai Tổ Kính Sơn Phái | ||
| Đồng Môn | ♂️ 0-TS Thanh Dương Quảng Phu, ♂️ 0-TS Mộc Chử Ngộ, ♂️ TS Cân Tử Sơn Sùng Huệ | ||
| Phối Ngẫu | #1 | Danh Tánh | Chưa Rõ |
| Pháp Tử | ♂️ TS Chiêu Hiền Hội Thông | ||
| #2 | Danh Tánh | Chưa Rõ | |
| Pháp Tử | ♂️ TS Chiêu Hiền Hội Thông | ||
| #3 | Danh Tánh | Chưa Rõ | |
| Pháp Tử | ♂️ TS Chiêu Hiền Hội Thông | ||
| #4 | Danh Tánh | Chưa Rõ | |
| Pháp Tử | ♂️ TS Chiêu Hiền Hội Thông | ||
| #5 | Danh Tánh | Chưa Rõ | |
| Pháp Tử | ♂️ TS Chiêu Hiền Hội Thông | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 824 |
Hành Trạng
zh: 鳥窠道林,Nh. Dorin; H. Tao-lin, (741-824). Là thiền sư Trung Quốc đời nhà Đường, thuộc Pháp hệ của Ngưu Đầu Tông (牛頭宗). Sư là đệ tử của Thiền sư Kính Sơn Đạo Khâm và có pháp tử là thiền sư Hội Thông Hàng Châu. Sư nổi tiếng qua sự tích sống ở tổ quạ trên cây, nên người đời gọi là Ô Sào (Niao-k’e - Tổ chim) Thiền sư , và qua các giai thoại với đệ tử cư sĩ là nhà thơ Bạch Cư Dị.
Người huyện Phú Dương, bổn quận Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), họ Phan. Mẹ là Chu thị mộng thấy ánh sáng mặt trời vào miệng, nhân đó mang thai, đến khi sanh có mùi hương lạ xông khắp nhà, rồi đặt tên Sư là Hương Quang.
Chín tuổi xuất gia, năm 21 tuổi thọ giới ở chùa Quả Nguyện (果願寺), Kinh Châu (荆州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc ngày nay). Về sau lại đến pháp sư Phục Lễ, chùa Tây Minh ở Trường An, học Kinh Hoa Nghiêm, luận Khởi Tín; Phục Lễ đem bài tụng về chơn vọng dạy cho, chủ yếu để tập tu thiền định.
Sư hỏi:
- Ban sơ, sao gọi là quán?. Dụng tâm thế nào?
Phục Lễ yên lặng hồi lâu mà không nói, Sư lễ bái ba lần rồi lui ra.
Đúng lúc Đường Đại Tông ban chiếu mời thiền sư Kính Sơn Quốc Nhất (tức là Kính Sơn Đạo Khâm, 徑山法欽) đến cửa khuyết (vào triều), Sư bèn yết kiến Ngài rồi được chánh pháp. Đến khi Sư đi về Nam, trước đó có tháp Bích Chi Phật ở chùa Vĩnh Phúc núi Cô Sơn, bấy giờ người đạo kẻ tục cùng nhau tạo pháp hội ở đây. Sư chấn tích1Chấn tích: Khua, dộng tích trượng phát ra tiếng khi vị tăng hành cước muốn dừng lại hoặc đi.và vào hội, trong hội có pháp sư Thao Quang chùa Linh Ẩn hỏi:
- Pháp hội ở đây, vì sao (ông) phát ra tiếng?
Sư đáp:
- Không có tiếng ai biết đó là pháp hội?
Về sau thấy núi Tần Vọng(秦望寺), có cây tùng lớn, cành lá sum suê quanh co như cái lọng, Sư bèn nương
thân ở trên đó. Vì thế thời nhân gọi Sư là Thiền Sư Điểu Khòa (Tổ chim, 鳥窠禪師), lại có chim khách đóng tổ kế bên tự nhiên thuần quen con người, còn gọi Sư là Hòa thượng Thước Sào (Tổ chim khách, 鵲巢禪師).
Có thị giả Sư là Hội Thông, bỗng một hôm muốn từ giã ra đi. Sư hỏi:
- Nay ông đi đâu?
Đáp:
- Hội Thông vì pháp xuất gia mà Hòa thượng không rủ lòng từ dạy bảo, nay đi các nơi để học Phật pháp.
Sư nói:
- Nếu là Phật pháp, ở đây ta cũng có chút ít.
Hỏi:
- Thế nào là Phật pháp của Hòa thượng?
Sư rút sợi chỉ vải trên thân đưa lên thổi nó.
Hội Thông liền lãnh ngộ huyền chỉ.
*

Khoảng năm Nguyên Hòa (元和,(806-820) - Đường Hiến Tông), Bạch Cư Dị (白居易) ra làm thái thú quận đó (Thiệu Hưng, Chiết Giang), nhân lúc vào núi lễ ra mắt, bèn hỏi Sư:
- Chỗ thiền sư ở rất nguy hiểm!
Sư nói:
- Chỗ thái thú càng nguy hiểm hơn.
Hỏi:
- Chỗ đệ tử là trấn thủ giang sơn, có gì là nguy hiểm đâu?
Sư nói:
- Củi lửa gặp nhau, thức tánh đâu dừng. Chẳng phải là nguy hiểm ư?
Lại hỏi:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư đáp:
- Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành.
(Chớ làm các điều ác, vâng làm các điều lành)
Bạch nói:
- Đứa bé ba tuổi cũng biết nói như thế.
Sư đáp:
- Đứa bé ba tuổi tuy nói được mà ông già tám mươi làm không được.
Bạch bèn làm lễ.
Bạch Cư Dị nghe xong vô cùng thán phục, bèn làm lễ và làm cái gác bằng tre trên cây cho sư ở và thường đến đây hỏi đạo.
Vào năm Trường Khánh (長慶) thứ tư (824), ngày 10 tháng 2, Sư bảo thị giả: “Thân nghiệp báo ta nay đã
hết”. Nói xong ngồi tịch. Thọ 84 tuổi, tuổi lạp 63. Sư được ban thụy hiệu là Viên Tu Thiền Sư (圓修禪師).
