Tiểu Sử
Hành Trạng
Đạo Ôn: Ngài tên là Hoàng Phổ, người Triều Na, An Ðịnh. Sau này là Cao Sĩ Ích Chi vậy. Thuở nhỏ thích đàn và sách, thờ phụng cha mẹ bằng tấm lòng chí hiếu. Năm mười sáu tuổi vào Lô Sơn học đạo với tổ Tuệ Viễn. Sau đó vân du sang Trường An gặp ngài La-thập.
Vào giữa niên hiệu Nguyên gia thì Ngài trở về chùa Ðàn Khê ở Tương Dương. Ngài thông thạo kinh điển Ðại thừa và thấu suốt Số luận, những học chúng Phiền Miện đều tôn Ngài làm thầy.
Khi ấy Trương Thiệu trấn nhậm Tương Dương nước Ngô. Tử Phu là phụ tá của ông, song Phu nghe ngài Ðạo Ôn giảng kinh bèn quay về. Trương Thiệu hỏi:
- Ðạo Ôn là người thế nào?
Phu đáp:
- Kiến giải của Ngài đủ để biện thuyết chánh giáo. Ðạo tâm thật khó suy lường.
Trương Thiệu đích thân đến đó tham kiến, mới biết được Ngài là bậc thần tuấn, rồi ông từ tốn thưa ngài Ðạo Ôn rằng:
- Giả như Pháp sư có thể hoàn tục thì tôi sẽ cho Ngài làm Biệt giá.
Ðạo Ôn nói:
- Ông đem xiềng xích và gông cùm để dụ ta, như mặt trời lặn về Giang Lăng.
Trương Thiệu ăn năn hối hận không kịp. Niên hiệu Hiếu Kiến Sơ Ngài được mời về kinh đô ở chùa Trung Hưng. Trong năm Ðại Minh phong Ngài làm tăng chủ của đồ ấp.
Vào ngày 8 tháng 10 năm thứ 4 hoàng thái hậu Lộ Chiêu đắp xong tượng Phổ Hiền trong năm Ðại Minh. Thiền đường ở Trung Hưng thiết trai thỉnh hai trăm vị tăng, các vị lần lượt vân tập, số người đã định. Lúc ấy ở chùa đã sắp đặt, bố trí trang nghiêm. Chợt có một vị tăng đến trễ, song phong thái, nghi dung đạo mạo. Cả trai đường đều chăm chú nhìn Ngài. rồi Ngài cùng với trai chủ chuyện trò một hồi rất lâu, sau đó bổng nhiên biến mất. Có vị tăng tra hỏi người giữ cửa thì ông nói chẳng thấy ai ra vào. Ðại chúng chợt hiểu ra đó là vị thần tăng. Bấy giờ Ðạo Ôn đã làm tăng chủ, Ngài kể lại đầu đuôi với Mạt Lăng rồi nói rằng:
- Hoàng thái hậu là người đoan chính, nghiêm minh đã hợp với thánh ứng của thần. Gọt sạch tịnh tràng tư tưởng, mài nhẵn chí cảnh ý niệm, hẳn lẽ tiếng tăm vang dội khắp cung đình, sự việc loan khắp ngoại bang. Chính là sáng tạo ra một lò đúc tư tưởng, để rút ra một dụng cụ tinh xảo. Phóng tạo tượng Phổ Hiền để tỏ lòng tôn kính, quý báu như vũ trân, giá trị như thiên sức.
Hôm đó ngày mùng tám trai nghi đã lập, hội giảng đã bày. Tiệc hội có hạn, danh bạ đã định. Tăng chúng lần lựơt theo thứ tự vào tòa, vừa vặn chỗ ngồi. Chuyền kinh sắp đến bán cảnh và sư đệ ta bổng thấy một vị tăng lạ chuẩn bị bước vào tòa. Dung mạo đoan nghiêm, nghi biểu đáng kính. Ðại chúng kinh ngạc, chẳng ai biết Ngài. Trai chủ hỏi:
- Thượng nhơn tên gì?
Ðáp:
- Tôi là Tuệ Minh
Hỏi:
- Ngài ở chùa nào
Ðáp:
- Từ Thiên An đến.
Trong lúc đối đáp qua lại bổng nhiên biến mất. Cả hội rởn tóc gáy, toàn trai đường đều đau đáu, cho rằng điềm lành ẩn hiện trong tích tắc, Tử sơn có thể chiêm ngưỡng, hoa đài gần trong tấc gan. Bởi từng nghe hễ hết lòng thành thì sẽ cảm hoá cảnh vật, xoay chuyển điềm gở. Lóng tâm đã yên thì khoét núi đào sông. Huống chi bao dung, độ lượng của đế vương, công cần mẫn, tận tuỵ của hoàng thượng. Nhân thấu suốt càn khôn, nghĩa bao trùm nội ngoại. Cho nên bậc minh quân, công thần là biểu trưng cho triều đại “Ðại Minh” (hưng thạnh) khuyến phát diệu thân chính mắt thấy rồng bay ra khỏi thất. Nó ví như ngọn đuốc Tuệ của bệ hạ, là vầng nhật nguyệt của nước nhà. Cho nên lấy Tuệ Minh đặt tên cho người, để thay trời làm vương vị hưng thịnh. Quý hoá vô cùng. Nên lấy Thiên An đặt tên chùa. Thần cơ càng rộng chánh đạo mới tụ. Thiên hạ thái bình nhân dân đều yên vui. Kính trình những lời này cho chúa thượng để làm tỏ thiên hưu, huyện lệnh bèn nói với quận.
Lúc bấy giờ Kinh Triệu Y Khổng, Linh Phù đem việc đó để biểu dương. Hạ chiếu đổi thiền phòng làm chùa Thiên An, để kỷ niệm điềm lành kia. Sau đó ngài Ðạo Ôn đảm nhiệm chức vụ thuyết giảng nhiều lần. Tinh cần nhiều lần cảm ứng thần linh. Vua rất mến Ngài, đồng thời ban thưởng năm mươi vạn tiền. Người thời ấy bảo rằng: " Ðế chủ khuynh tài, Ôn công suất tắc" . Cảm ứng thiên đế, thần linh ban đức.
Ngài mất vào đầu niên hiệu Thái thỉ đời Tống, thọ sáu mươi chín tuổi, vào thời đó tại chùa Trung Hưng lại có những vị tăng đều là những bậc nổi tiếng về nghĩa học.
Ngài Tăng Khánh giỏi về Tam Luận, được những học giả đương thời kính trọng.
Tuệ Ðịnh có sở trường về kinh Niết-bàn và Tỳ-đàm cũng đáng gọi là bậc nguyên tượng.
Tăng Tung thông thạo cả Số luận.
Mạt Niên Tích chấp rằng Phật không nên thường trụ, lúc lâm chung cuốn lưỡi hoại trước.
