TS Chân Yết Thanh Liễu

Tiểu Sử

Danh Tánh Tổ Thứ 47 - TS Chân Yết Thanh Liễu - Ðời Thứ 10 Tông Tào Động -
Sanh#1Năm Sanh1089
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTổ Thứ 46 - TS Đơn Hà Tử Thuần - Ðời Thứ 9 Tông Tào Động
Đồng Môn ♂️ 0-TS Quy Tông Minh, ♂️ 0-TS Đại Dương Mãn, ♂️ 0-TS Tùy Châu Tu Sơn, ♂️ 0-TS Đại Thừa Thăng, ♂️ 0-TS Võ Đang Phật Nham, ♂️ 0-TS Đại Hồng Khánh Dự, ♂️ 0-TS Hoằng Trí Chánh Giác, ♂️ 0-TS Trị Bình Ngẫu
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Thần Quang Ðạo Tân, ♂️ 0-TS Trường Lô Tuệ Ngộ, ♂️ 0-TS U Nham Tử Vịnh, ♂️ 0-TS Long Tường Ðạo Huy, ♂️ 0-TS Thọ Sơn Ðức Sơ, ♂️ 0-TS Bắc Sơn Pháp Thông, ♂️ 0-TS Quy Sơn Nghĩa Sơ, ♂️ 0-TS Năng Nhân Sùng Thọ, ♂️ 0-TS Trường Lô Diệu Giác, ♂️ 0-TS Thượng Lam Tổ Khanh, ♂️ 0-TS Bảo Ninh Hưng Dự, ♂️ Tổ Thứ 48 - TS Thiên Đồng Tông Giác - Ðời Thứ 11 Tông Tào Động
Tịch#1Viên Tịch1151

Hành Trạng

2. Thiền sư Liễu ở Trường lô. Thiền sư Liễu - Chân Hiết ở Trường lô tại Chân châu, vốn người dòng họ Ung ở Tả miên. Từ ngày còn lót tả, đưa Sư vào chùa thấy Phật, tự nhiên Sư vui mừng máy động chân mày, mọi người đều lấy làm lạ. Ðến lúc mười tám tuổi, khảo xét kinh Pháp Hoa mà Sư được độ, Sư sang ở Ðại từ tại Kinh đô, tập học kinh luận lãnh hội được đại ý. Sư bèn ra đất Thục đến Cái hán, gõ thất Thiền sư Thuần ở Ðan hà, Thiền sư Thuần hỏi: “Thế nào là chính mình ở kiếp không trở về trước?” Sư phỏng trả lời, Thiền sư Thuần bảo: “Ngươi ồn náo nơi đây, tạm đi đi”. Một ngày nọ, Sư lên núi Bát vu, bỗng nhiên khế ngộ, bèn đi thẳng về Ðan hà đứng hầu, Thiền sư Thuần vỗ tay bảo: “Sắp gọi là ông biết có”. Sư vui mừng mà kính bái đó. Ngày hôm sau lên giảng đường, Thiền sư Thuần bảo: “Mặt nhật soi chiếu Cô phong xanh biếc, trăng soi khe nước lạnh, quyết ấn huyền diệu của Tổ sư chẳng hướng tấc lòng an”. Xong, bèn xuống khỏi tòa. Sư đến ngay trước mặt thưa: “Ngày nay lên tòa lại không làm mù lòa tôi được”. Thiền sư Thuần bảo: “Ông thử nêu cử ngày nay ta lên tòa xem?” Sư chần chừ giây lát. Thiền sư Thuần bảo: “Sắp gọi là ông liếc đất vậy”. Sư bèn đi ra. Sau đó, Sư vân du Ngũ đài, tới kinh đô, Phù biện, thẳng đến Trường lô bái yết Tỏ chiếu, một lời khế hợp cùng gieo, bèn bảo làm thị giả, một năm sau phân tòa, sau đó không bao lâu lấy cớ bệnh cáo lui, bảo Sư kế thừa pháp tịch ấy, học giả đến nương tựa như trở về. Khoảng cuối niên hiệu Kiến Viêm (1127-1131) thời Nam Tống, Sư vân du đến Tây minh. Làm chủ Thiên phong ở Bồ-đà-đài, Vân phong ở đất Mân. Có chiếu ban mời đến ở Dục vương, rồi chuyển dời đến Long tường ở Ôn châu, Kinh sơn - Từ ninh ở Hàng châu. Hoàng thái hậu ban lệnh khai sơn Sùng tiên ở Cao minh. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Trước kia ở nơi tiên sư dưới một tiếng vỗ tay mà mọi kỹ lưỡng của tôi đều hết, tìm cái nơi mở miệng không thể được. Như nay lại có cái gì khoái sống gã tài giỏi nào chẳng thấu triệt ư? Nếu không thì ngậm sắt mang yên mỗi tự nhằm tiện”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðã lâu im lặng, cốt yếu ấy chẳng phải nhanh nói. Thích-ca, Lão Tử đợi yếu thực khúc nhạc bán đùa vui. Tranh làm sao lúc chưa ra khỏi thai đã bị người khác trông nhìn quấy phá. Hãy nói trông nhìn quấy phá cái gì? Mù lòa Tuyết phong không thể được”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Lên đỉnh Cô phong, qua cầu Ðộc mộc, chợt thẳng đi đâu? Còn là nơi chân cao thấp của người đương thời. Nếu thấy được thấu suốt thì thân chẳng ra khỏi cửa mà khắp cùng mười phương, chưa vào cửa mà thường ở trong thất. Nếu là chưa được như vậy rảo mát đánh lấy một lần chuyển củi”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Nói được câu thứ nhất chẳng bị cây gậy làm mù lòa, biết được cây gậy còn là việc trong đường đi. Làm sao sống là một câu đến đầu đất?” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Nơi nơi tìm không được, chỉ có một nơi chẳng tìm kiếm mà tự được. Hãy nói là nơi nào?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Giặc thân đã lộ bày”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Bên khóc miệng nổi meo trắng, mới biết vào cửa. Khắp thân cháy đỏ mới biết việc trong cửa. Lại phải biết có chẳng ra cửa đến cùng”. Sư mới bảo: “Kêu cái gì làm cửa?” Có vị Tăng hỏi: “Chư Phật ba đời hướng vào trong lửa dữ chuyển Ðại pháp luân, có đích thực như vậy không?” Sư cười lớn bảo: “Ta tức nghi nhằm”. Lại hỏi: “Hòa thượng làm gì tức nghi nhằm?” Sư đáp: “Hoa hương đồng nội đầy đường, chim ở rừng sâu chẳng biết quân”. Lại hỏi: “Chẳng rơi lạc phong thái lại hứa chuyển thân không?” Sư đáp: “Nơi người đá đi chẳng đồng công”. Lại hỏi: “Việc hướng thượng làm sao sống?” Sư đáp: “Khéo tại trước một bọt nước, nào dung mắt ngàn Thánh”. Vị Tăng ấy bèn lễ bái. Sư bảo: “Chỉ sợ chẳng nghĩ gì”. Một ngày nọ, Sư vào nhà trù, thấy nấu bún, bỗng nhiên thùng bún lũng đáy, đại chúng đều thất kêu: “Thật đáng tiếc!” Sư bảo: “Ðáy thùng lủng thoát, đáng nên vui mừng, cớ gì mà sinh phiền não?” Một vị Tăng thưa: “Hòa thượng tức đắc”. Sư bảo: “Ðốt nấu đáng tiếc một thùng bún”. Xong, Sư hỏi một vị Tăng: “Sau khi ông chết thiêu đốt thành tro bụi tung rải đi rồi, hướng đến nơi nào đi?” Vị Tăng ấy bèn hét. Sư bảo: “Khéo một tiếng hét chỉ là chẳng được lật lại thành thực”. Vị Tăng ấy lại hét. Sư bảo: “Công án chưa tròn lại hét mới được”. vị Tăng ấy không nói năng gì. Sư bèn đánh và bảo: “Gã chết này”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Rêu bít đường xưa chẳng rơi hư ngưng, móc chấm rừng lạnh chịu bày phong yếu, móc kim ẩn kín, ai bảo ngu phụ nương náu hang ổ, chỉ gì nhận lấy, tự là khoái sống bình thường, lại có đủ mắt sáng qua thấu quan ải chăng?” Ngưng giây lát, Sư lại bảo: “Ngay như nghe sớm tiện về đi, tranh tợ từ trước lại chẳng ra cửa”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chợt mưa chợt tạnh chợt lạnh chợt nóng. Sơn Tăng chỉ cái sơn Tăng tự biết, các người chỉ cái các người tự nói. Hãy nói miệng Tuyết Phong trừ ăn cơm ra cần làm cái gì?” Sư bèn hỏi một vị Tăng: “Trên điện Lưu ly, Ngọc Nữ ném thoa, rõ bên việc gì?” Vị Tăng ấy đáp: “Xoay cùng chẳng đáng có”. Sư hỏi: “Lại có dứt hay tiếp tục gì không?” Vị Tăng ấy đáp: “Xưa nay chẳng từng nghe”. Sư hỏi: “Chánh ngay lúc chẳng từng nghe ấy như thế nào?” Vị Tăng ấy thưa: “Trân trọng”, bèn lui ra. Lại có lúc lên giảng đường, Sư lay lắc cây gậy mà bảo: “Xem xem ba ngàn Ðại thiên thế giới đồng một lúc lay động. Ðại sư Vân Môn tức được, còn Tuyết Phong đây không như vậy”. Sư bèn gõ cây gậy một cái tiếp bảo: “Ba ngàn Ðại thiên thế giới hướng nơi nào đi. Có hiểu không? Chẳng được mưa trùng mai, mầm mạ tranh thấy xanh”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thân không, huyễn hóa tức pháp thân”. Và Sư bèn làm thế múa vũ và tiếp bảo: “Thấy gì? Thấy gì? Thấy được qua cầu thôn rượu đẹp”. Sư lại làm thế múa vũ mà tiếp bảo: “Thấy gì? Thấy gì? Gì chẳng thấy cách bờ hương hoa đồng nội”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Lại có chẳng bị huyền diệu làm ô nhiễm chăng?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Một điểm ấy nghiêng nước bốn biển, đã là tẩy rửa khỏi chẳng xuống”. Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là chính tự mình ở kiếp không trở về trước?” Sư đáp: “Ngựa trắng vào hoa lau”. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Cùng mảy trần chôn mất gốc, diệu thể mất tông, một câu cắt dứt dòng, cao sâu hết cả, là vì kim vàng nơi kín chẳng bày sáng nhọn, chỉ ngọc thông thời, ngầm buông khác thể. Tuy là như vậy, nhưng còn là hỗ tương cả hai tỏ rõ. Hãy nói khéo vụng chẳng đến làm sao sống cùng ủy thác?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Vân la nơi đẹp xanh râm hợp, cây hang cao thấp biếc tỏa sâu”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chuyển công đến vị là hướng người đi, ngọc giấu kinh sơn quý. Chuyển vị đến công tức người lại, lò hồng mãnh tuyết xuân. Công vị đều chuyển, thông thân chẳng ứ trệ, buông tay mất nơi nương tựa, Thạch nữ đêm lên cơ, thất kín không người quét, chánh lúc nào một câu dứt hơi thở làm sao sống cùng ủy thác?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Về cội gió theo lá, soi khắp trăng đầm không”. Sư thị tịch tại Sùng tiên - Cao ninh, dựng tháp tại gò Hoa đồng ở phía Tây của chùa, truy phong thụy hiệu là “Ngộ Không Thiền sư”.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.