Tiểu Sử
Hành Trạng
11. Thiền sư Duy Chiếu ở Bảo phong. Thiền sư Duy Chiếu - Xiển đề ở Bảo phong tại Hồng châu, vốn người dòng họ Lý ở Giảng châu. Từ thuở thơ bé, Sư đã nổi trội mà chán nhàm thế tục, một ngày nọ trao sách cho đọc đến câu “Tánh cùng gần mà dần tập thành xa”, Sư bèn nói: “Phàm Thánh vốn một thể chỉ cho tập quen nên dần sai biệt. Ta biết được đó vậy”. Và Sư liền đến đô thành nương tựa Thiền sư Thái ở Lộc uyển cầu xin xuất gia thọ giới Cụ túc lúc mười chín tuổi. Thiền sư Thái bảo Sư đến nghe giảng luận khởi tín ở Ðại từ, Sư bỏ về phòng nằm, Thiền sư Thái hỏi về nguyên do. Sư đáp: “Ðã xưng là Chánh tín Ðại thừa thì đâu thể nói năng rõ được”. Rồi Sư mới rỗng tâm đến bái yết Phù Dung ở Ðại hồng, hằng đêm thường ngồi nơi đường lên xuống các, vừa lúc phong tuyết chấn động, nghe có tiếng cảnh tỉnh kẻ trộm truyền hô qua đó, theo sự đạt được, Sư bèn bỏ đi. Ðến trong khoảng niên hiệu Ðại Quán (1107-1111) thời Bắc Tống, Phù Dung bị mắc nạn, Sư từ Tam ngô muốn rảo bước đến Nghi thủy, kẻ tớ lạc mê đường, Sư nắm cây gậy đánh vào đó, bỗng nhiên đại ngộ, mới than rằng: “Ðây chẳng là Niết Sơn ư?” Sư theo hướng Bắc đến Nghi thủy, Phù Dung trông thấy mà vui mừng bảo rằng: “Tiếp nối Tông phong của Ta hẳn là con và vài bạn nữa vậy”. Nhân đó lưu lại tự thân ở trên bờ hồ qua nhiều năm, trí chứng thành tựu, Sư mới ra nhận lãnh Chiêu đề, dời đổi Cam lồ, Tam tổ. Ðến năm Nhâm dần (1122) thuộc niên hiệu Tuyên Hòa (1119- 1126) thời Bắc Tống, vua Huy Tông (Triệu Cát) ban sắc chiếu giao bổ Sư đảm nhận Viên Thông. Nhưng Sư vất bỏ đến ở Lặc Ðàm. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Phật xưa kia nói, mới đầu ta thành Ðạo Chánh giác đích thân thấy tất cả chúng sinh khắp đại địa đều thành Chánh giác. Ðến sau cùng lại nói sâu chắc xa tối không người nào có thể đến được, chẳng có thể thấy biết tài giỏi đầu rồng đuôi rắn”. Xong, Sư bèn xuống khỏi tòa. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chư Phật ở thời quá khứ đã nhập Niết-bàn rồi, các người chẳng nên truy niệm. Chư Phật ở thời vị lai chưa xuất hiện nơi đời, các người chẳng cần phải vọng tưởng, Chánh ngay ngày nay là người nào? Tham”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Bá Di hẹp hòi, Liễu Hạ Huệ không cung kính. Quân tử chẳng do vậy. Lúc hai bên chẳng lập, ngay trung đạo chẳng an làm sao sống?” Sư nhóm nắm cây gậy và tiếp bảo: “Uyên ương thêu ra từ ông thấy, chẳng nắm kim vàng trao cho người”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Môn hạ Thái dương khéo xướng càng cao, trăng sáng trước nhà biết tiếng hiếm ít, chẳng khơi thuyền rong ngang bến bãi mái chèo vẫy sóng trong, xướng vui mừng năm nghiêu, hòa vui nhạc bình, báo cáo như vậy, xin khắp nhận lấy, khoảnh khắc nghĩ bàn mây trắng muôn dặm”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Vốn tự chẳng sinh nay cũng không diệt, là chết chẳng được, ngay chỗ phát sinh theo đó diệt hết, là mẫu mực của Hàm sinh nhận thọ. Bậc đại Trượng phu tài giỏi phải ngay nơi sinh tử, yên nằm rừng gai góc, cúi ngưỡng co duỗi, tùy cơ thi vi. Nếu hay như vậy thì vô lượng phương tiện trang nghiêm Tam-muội đại giải thoát môn chóng mở. Còn như chưa vậy thì vô lượng phiền não, hết thảy địa ngục trần lao dựng đứng trước mặt bít lấp đường xưa”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Người xưa nói: Rơi đọa chi thể, gạt bỏ thông minh, lìa hình bỏ trí đồng với Ðại đạo, chánh ngay lúc nào, hãy nói? Là người nào sau Thi thơ định Lễ nhạc? Lại có giao phó chăng? Lễ nói lễ nói. Ngọc gấm nói gì thay, Nhạc nói nhạc nói chuông trống nói gì thay!” Có vị Tăng hỏi: “Tiếp theo Sư có nói nơi mây đen sẫm riêng đỉnh núi xinh nổi trội, trong trăng lờ mờ, nước Lặc Ðàm phát sáng, há chẳng là cảnh núi báu ư?” Sư bảo: “Nếu là cảnh núi báu là nhờ ông kỹ càng xem”. Lại hỏi: “Thế nào là người trong cảnh?” Sư đáp: “Xem lấy lệnh lúc đi”. Lại hỏi: “Chỉ như tiếp nhận lời phải hiểu Tông chớ tự lập khuôn phép. Vậy thế nào là Tông chỉ của Hòa thượng?” Sư đáp: “Phải biết mây ngoài trên ngàn núi, riêng có tùng linh mang móc lạnh”. Ðang lúc tuyết xuống, có vị Tăng hỏi: “Với Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại thì không hỏi, còn thời tiết nhân duyên, việc ấy thế nào?” Sư đáp: “Một mảnh hai mảnh ba bốn mảnh rơi tại trong mắt còn chẳng tiến cử được”. Ðến ngày mồng bảy tháng giêng năm Kiến viêm thứ hai (1128) thời NamTống, Sư thị tịch, trà tỳ có được xá-lợi như ngọc bội, chiếc lưỡi và răng không rã hoại, dựng tháp tôn thờ tại ngọn núi phía Tây của chùa.
