Tiểu Sử
| Danh Tánh | HT Trừng Diên Hưng Phước - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1884 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | HT Thanh Đức Tâm Khoan - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 7 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Đồng Môn | ♂️ HT Trừng Khiết Hưng Nghĩa, ♂️ HT Trừng Gia Hưng Mãn - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Hưng Thạnh, ♂️ HT Trừng Hóa Hưng Dụng - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Trừng Chiếu Từ Mãn - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Phối Ngẫu | #1 | Danh Tánh | Chưa Rõ |
| Pháp Tử | ♂️ HT Tâm Tuệ Thanh Trí - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 1974 |
Hành Trạng
Hòa thượng Trừng Diên Hưng Phước (1884 - 1974)
Chùa Từ Hóa - Huế
Hòa thượng húy là Võ Văn Phước, pháp danh Trừng Diên, pháp tự Vạn Sanh, pháp hiệu Hưng Phước, thuộc dòng thiền Lâm Tế, đời thứ 42.
Hòa thượng sinh năm Giáp Thân (1884) tại xã Diên Phước, huyện Bình Sơn, tổng Bình Trung, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Võ Văn Hồng, và cụ bà Đặng Thị Chung. Dòng tộc nhiều đời làm quan võ. Hòa thượng là người con duy nhất trong gia đình.
Lúc lên 5 tuổi theo thân phụ ra kinh kì Phú Xuân để theo đòi chốn đèn sách. Dòng dõi gia đình nhiều đời quy y Tam bảo, bản thân Ngài được thân phụ thường đưa đến các Tổ đình chiêm bái, nhờ vậy mà Hòa thượng sớm thâm tín Tam bảo.
Năm 16 tuổi (Canh Tý - 1900), Hòa thượng xin thân phụ xuất gia, đầu sư học đạo với Đại lão Hòa thượng huý Thanh Đức hiệu Tâm Khoan tại núi Hàm Long, chùa Thiên Thọ Báo Quốc - xứ Thuận Hóa.
Năm Nhâm Dần (1902), Trưởng lão Hòa thượng Bổn sư cho thọ phương trượng giới Sa di.
Năm Kỷ Dậu (1909), Hòa thượng được Bổn sư cho thọ cụ túc giới tại giới đàn Phước Quang - Quảng Ngãi.
Suốt cuộc đời, Hòa thượng tinh tấn tu học nên am hiểu khá sâu về Kinh Luật Luận. Đương thời Hòa thượng được bổn sư tín cẩn và giao phó các chức vụ như: Thư ký, Huấn đạo đồ chúng, Tri sự Tổ đình Báo Quốc.
Để ấn chứng sự tu hành của đệ tử, Trưởng lão Hòa thượng Bổn sư đã phú kệ đắc pháp cho Hòa thượng như sau:
Trừng tâm hiện Bát-nhã sắc sắc
Diên trường vọng Bồ đề không không.
Vạn duyên giai thị pháp,
Sinh diệt bổn lai không.
Hưng long chánh đạo truyền không đế,
Phước huệ tu trì sắc thị không.
Năm Kỷ Mùi (1919), đã thỉnh Ngài làm Tôn chứng sư tại đại giới đàn Từ Lâm ở Quảng Ngãi.
Năm Ất Sửu (1925), Hòa thượng lập thảo am tại làng An Cựu, thôn Tứ Tây, thể theo gương Phật tổ, Hòa thượng đã lập nguyện khổ hạnh tu thân, với niệm tiếp dẫn hậu lai, thiệu long Tam bảo.
Năm Kỷ Mão (1939), đầu xuân, Hòa thượng về quê bán ba mẫu đất hương hoả, phần gia tộc dành riêng cho Hòa thượng, ngày 19 tháng 02 cùng năm, Hòa thượng tu tạo lại thảo am bằng vật liệu gỗ, ngói kiên cố, đặt tên hiệu chùa là Từ Hóa, trước để thờ Tam bảo sau thờ gia tiên. Đệ tử của Hòa thượng lên đến vài chục vị. Trưởng pháp tử của Trưởng lão Hòa thượng là Hòa thượng Thích Thanh Trí, Giám tự Tổ đình Báo Quốc, rồi Chánh Đại diện, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Trị Thiên, sau này là tỉnh Thừa Thiên Huế.
Về sau tuổi già sức yếu nhưng Hòa thượng vẫn tinh tấn trì kinh và bái sám Hồng danh Phật tổ không ngơi nghỉ. Đương thời Hòa thượng thường nhắc nhở đồ chúng và thập phương bá tánh như sau:
“Sáu chữ Di Đà chuyên tâm niệm,
Mãn phần Tịnh Độ tọa Liên Hoa”.
Duyên trần đã mãn, Hòa thượng gọi đồ chúng căn dặn:
“Chánh tâm khai giác lộ,
Pháp tánh độ quần sanh,
Viên dung vô quái ngại,
Tam-miệu Tam-bồ-đề”.
Hòa thượng thác hóa quy Tây vào giờ Hợi, ngày 14 tháng 4 năm Giáp Dần, 1974. Tháp mộ của Ngài toạ hướng Đông Nam trong khuôn viên chùa Từ Hóa, nên người đời sau đã có bài kệ tán thán:
Sáu lăm hạ lạp,
Tinh tu phạm hạnh.
Hướng dẫn quần sanh
Đầu thành Tam bảo.
Chín mươi tuổi đời
Trụ thế tu thân,
Hoa Vô ưu rụng
Thoang thoảng mùi hương.
