Tiểu Sử
| Danh Tánh | HT Tâm Hòa Thiên Thái - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1923 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | HT Trừng Thanh Giác Bổn - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Đồng Môn | ♂️ HT Tâm Thông Quảng Huệ - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Tâm Giải Tương Ưng - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 2006 |
Hành Trạng
Hòa Thượng Tâm Hòa Thiên Thái (1923 - 2006)
Chùa Thiên Minh - Huế
Hòa thượng thế danh Hoàng Hữu Dung, Pháp danh Tâm Hòa, tự Thiên Thái, dòng pháp Lâm Tế đời thứ 43. Hòa thượng sinh năm Quý Hợi (1923), tại làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Xuất thân trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ ông Hoàng Hữu Phổ, và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Tần.
Hạt giống Bồ đề đã sẵn túc duyên, lại được trưởng dưỡng trong một gia đình thuần thành Phật giáo, năm lên 13 tuổi, Ngài xin song thân xuất gia học đạo với Hòa thượng Giác Bổn tại Tổ đình Từ Quang - Huế.
Được sự hướng dẫn tận tình của Bổn sư cùng với tâm nguyện thiết tha tu học, năm 1940 Ngài được Hòa thượng Bổn sư trao truyền Sa-di thập giới.
Sau sáu năm cần mẫn phước huệ song tu, oai nghi đĩnh đạc, năm 1946, Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho phép đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn tổ chức ở chùa Thuyền Tôn - Huế, dự vào hàng Tăng bảo, bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh.
Năm 1947, theo nhu cầu tu học và hành đạo, Ngài đã được phép Hòa thượng Bổn sư vào Nam cầu học. Trong suốt thời gian chuyên cần rèn luyện nội điển dưới sự hướng dẫn của quý vị Tôn túc đạo cao đức trọng, Ngài còn để tâm học thêm Y học Dân tộc, châm cứu và bốc thuốc với Hòa thượng Lương y Thích Tâm Ấn ở Sài Gòn và theo học khoa Mỹ thuật tại trường Mỹ thuật Quốc gia. Cũng trong thời gian này, Ngài đã kết thân với Hòa thượng Thích Nhất Hạnh đồng khai sáng chùa Bửu Sơn - Đà Lạt, chùa An Lộc - Đồng Nai…
Cuối thập niên 1950 - 1960, Ngài kế vị Sư huynh là Hòa thượng Thích Quảng Huệ đảm nhận chức vụ Trụ trì chùa Thiên Minh - Huế và khởi công chú tạo đại hồng chung vào năm 1964.
Năm 1968, Ngài giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Văn hóa Giáo dục, kiêm Trưởng ban Quản trị trường Trung Tiểu học Bồ Đề - Đà Nẵng, chuyên dạy giáo lý và hội họa tại trường.
Năm 1975, Ngài lại vào Nam lần lượt trùng tu và Trú trì tại các chùa Pháp Vân, xã Phước Thái, Long Thành; chùa Long Thọ - Long Khánh; chùa Bảo Sơn - La Ba, Đà Lạt; chùa An Lộc - Đồng Nai. Cũng trong thời gian này, ngoài trọng trách Trú pháp Vương gia, Trì Như Lai tạng, Ngài còn đem khả năng về Y học dân tộc và mỹ thuật của mình để thực hiện sự nghiệp giúp đời, hành Bồ-tát hạnh. Ngài đã nhận lời mời tham gia làm việc trong Ban Cố vấn Y học Dân tộc, Hội Chữ thập đỏ, và giữ chức vụ Trưởng khoa Y học Dân tộc tại bệnh viện Xuân Lộc, Long Khánh, Đồng Nai.
Năm 1999, nhận thấy tuổi tác Ngài đã cao, sức khoẻ không được bảo đảm, môn đồ Tổ đình Từ Quang nhất tâm cung thỉnh Ngài về trú trì Tổ đình để sớm hôm ân cần hầu hạ. Thuận theo tâm nguyện của môn đồ, Ngài đã trở về Tổ đình nhưng thời tiết khí hậu ở Huế không thích hợp với sức khỏe nên Ngài thường ra vào Bồ Đề Thiền viện, Đà Nẵng để tịnh dưỡng.
Tuy dáng người thanh mảnh, nhưng thể chất khang kiện, Ngài đi lại hoạt bát, và trước sau vẫn là một người hoạt bát và siêng năng. Ngài ít nói năng, ưa tịch mặc song khi phải tiếp chuyện với ai thì dù lớn hay nhỏ, tại gia hay xuất gia, thì rất khiêm cung, nhã nhặn. Ngài luôn khéo léo từ chối những sự chăm sóc hầu hạ của người khác mà chỉ muốn tự mình làm lấy khi còn có thể làm được. Những công việc hàng ngày như quét sân, nhổ cỏ, trồng cây là những công tác thường nhật của Ngài khi về già. Nhiều lúc Tăng chúng can ngăn để Ngài được nghỉ ngơi, nhưng Ngài vẫn tìm việc để làm. Ngài thường dạy: “Làm việc cho khoẻ người, ngồi hoài một chỗ thì chẳng khác người chết, làm việc là cả một kho vàng. Vừa làm vừa niệm Phật. Khi làm việc thì trong lòng chỉ có câu niệm Phật mà thôi.” Quét nhà, nhổ cỏ cũng như nắn vẽ tượng Phật, hai công việc này đều được Ngài coi như nhau, làm hết lòng và tươm tất đẹp đẽ. Chính vì phong thái làm việc đó, Ngài đã để lại cho đời nhiều tác phẩm nghệ thuật về điêu khắc và hội họa giá trị ở những nơi Ngài đi qua và lưu trú.
Suốt đời Ngài noi theo hạnh nguyện của đức Dược Sư, đem đức Từ bi thăm bệnh cho thuốc. Khi bốc thuốc hay châm cứu chữa bệnh cho người, Ngài thường niệm Phật Dược Sư để cầu gia hộ cho người bệnh chóng khỏi. Chính vì sự nhất tâm cầu nguyện, nương vào đại nguyện, đại thần của chư Phật cho nên kết quả điều trị thân bệnh cho người đã có nhiều điều kỳ diệu xảy ra. Ngài bảo đó chính là sự linh diệu của niềm tin và khoa học. Và cũng chính nhờ đó mà cảm hóa được nhiều người thực hành theo Phật pháp, làm lành lánh dữ, thăng tiến đời sống tâm linh.
Ngài thường nói, Tam Tạng Thánh giáo mênh mông vô lượng, không chỉ học vài năm là hết, cũng không phải chỉ một đời là xong mà phải học mãi, hết kiếp này đến kiếp khác, mới mong lĩnh hội được thâm nghĩa của giáo lý Phật Đà. Vì thế dù tuổi đã cao nhưng Ngài dành nhiều thời gian đọc sách, nghiên cứu kinh điển. Bộ kinh mà Ngài tâm đắc nhất là kinh Lăng Nghiêm Trực Chỉ. Dù kinh đã được phiên dịch ra Việt văn, Ngài vẫn muốn tự mình đọc bằng Hán tạng để rõ thêm nghĩa lý trong kinh, ngày đêm không rời kinh văn, vừa đọc vừa dịch theo cách hiểu của mình và giảng cho đồ chúng. Ngài còn để tâm sao soạn những sách y khoa châm cứu và được thảo viết thành tập để lại cho hậu thế. Nhưng công việc chưa hoàn thành, Ngài cảm thấy thân thể có nhiều thay đổi bất an, nên đành gác lại công việc.
Những ngày cuối đời, như có linh cảm muốn xả bỏ báo thân nên Ngài đã thăm viếng và đảnh lễ các Tổ đình. Ngài muốn về thăm quê hương lần cuối. Nhưng bệnh tình và sức khoẻ đã không cho phép.
Thế rồi, chỉ hơn một tuần lâm bệnh, Ngài đã thâu thần thị tịch tại Phương Trượng Thất, Tổ đình Từ Quang - Huế vào lúc 1 giờ 20 phút ngày mồng 10 tháng 3 năm Bính Tuất, nhằm ngày mùng 7 tháng 4 năm 2006, trụ thế 84 năm với 60 hạ lạp.
