HT Tâm Chơn Mật Tín

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-HT Tâm Chơn Mật Tín -
Sanh#1Năm Sanh1901
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápHT Trừng Thành Giác Tiên - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Đồng Môn ♂️ HT Tâm Địa Mật Khế, ♂️ HT Tâm Nhất Mật Thể - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Tâm Như Mật Nguyện, ♀️ Ni Trưởng Trừng Diên Diệu Huệ, ♂️ Cư Sĩ Tâm Hòa Trương Xướng, ♂️ HT Tâm Hương Mật Hiển - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♀️ Ni Trưởng Trừng Hảo Diệu Không - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Tâm Thanh Tịch Tràng - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Tịch#1Viên Tịch1941

Hành Trạng

Hòa thượng Tâm Chơn Mật Tín (1901 - 1941)
Chùa Trúc Lâm - Huế

Hòa thượng Mật Tín, gốc người Thừa Thiên, họ Nguyễn, sinh năm 1901. Hòa thượng xuất gia từ thuở nhỏ với Hòa thượng Giác Tiên, Tọa chủ chùa Trúc Lâm - Huế. Tánh tình điềm đạm, ăn nói nhỏ nhẹ, biết kính trên nhường dưới, khiêm cung, ít nói. Hòa thượng thích ở chổ vắng lặng, thanh tịnh. Hòa thượng học với Bổn sư ở Trúc Lâm, tham học với Hòa thượng Phước Huệ ở Tây Thiên, viết chữ Hán rất đẹp.
Hòa thượng Mật Tín là đệ tử đầu tay của Đại lão Hòa thượng Giác Tiên. Hòa thượng Bổn sư đặt cho Pháp danh Tâm Chơn, Pháp tự Mật Tín, thuộc Lâm tế chánh tông đời thứ 43.
Hòa thượng Mật Tín tu theo hạnh Mật tông, ít giao du với bạn bè và bổn đạo. Hòa thượng Chánh Pháp là bạn thân của Hòa thượng Mật Tín khi còn ở Tây Thiên và ở trong nhà giam của Pháp thời Pháp thuộc nhận xét: Hòa thượng Mật Tín là người kham nhẫn, ít sinh sự với mọi người. Đối với bề trên Ngài luôn luôn kính lễ, đối với bạn đạo là người hòa nhã, vui vẻ, đối với đàn em, ngài là người dễ mến, dễ gần gũi. Do hạnh nguyện như vậy, nên khi Bổn sư viên tịch, ngôi vị Trú trì Trúc Lâm được Sơn môn giao phó cho ngài nhưng ngài từ chối để chuyên tu mật hạnh. Sau khi pháp đệ Mật Hiển nhận chức Trú trì Trúc Lâm thế thứ 2, ngài xin ra Phổ Quang, sau đó qua Tổ đình Thuyền Tôn hầu hạ Hòa thượng Giác Nhiên và tu tập tại đây cho đến ngày tạ thế.
Hằng ngày, ngoài thời khóa tu tập, Hòa thượng cùng Chúng tăng gia sản xuất, cuốc đất trồng khoai sắn, đan lác để cải thiện cuộc sống trong chùa. Do cuộc sống thời ngài, kinh tế quá khó khăn, chiến tranh loạn lạc, thuốc men thiếu thốn nên sức khỏe xuống cấp trầm trọng. Đến năm 1941, hóa duyên đã mãn, ngài an nhiên thị tịch, thọ 40 tuổi. Bảo tháp của Ngài được bảo quản tại khuôn viên chùa Trúc Lâm. Văn bia tại bảo tháp của ngài đề :
臨 濟 四 十 三 世 竹 林 寺 長 上 心 下 真 號 密 信 阮 公 禪 師 之 塔 佛 曆 二 千 五 百 五 年 歲 次 壬 寅 二月十九日門徒親眷等奉立
“Lâm tế tứ thập tam thế Trúc Lâm Tự trưởng thượng Tâm hạ Chơn hiệu Mật Tín Nguyễn Công Thiền sư chi tháp”.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.