Tiểu Sử
|
|||
| Danh Tánh | HT Tâm Ấn Viên Quang - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1895 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | HT Trừng Thanh Tịnh Nhãn | ||
| Đồng Môn | N/A | ||
| Phối Ngẫu | #1 | Danh Tánh | Chưa Rõ |
| Pháp Tử | ♂️ HT Nguyên Phước Thiên Hỷ, ♂️ HT Nguyên Giác Quang Phú, ♂️ HT Thiên Ân - Ðời Thứ 44 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 10 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Nguyên Minh Phước Thành - Ðời Thứ 44 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 10 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 1976 |
Hành Trạng
Hòa Thượng Tâm Ấn Viên Quang (1895 - 1976)
Chùa Châu Lâm - Huế

Hòa thượng thế danh là Nguyễn Hữu Duy, sinh ngày 20 tháng 11 năm Ất Mùi niên hiệu Thành Thái (1895), nguyên quán thôn Đa Nghi, Tổng An Nhơn, huyện Phong Điền, tỉnh Quảng Trị.
Năm 15 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia tại chùa Tường Vân, thờ Hòa thượng Tịnh Nhãn làm thầy, được Bổn sư cho Pháp danh Tâm Ấn. Sau đó lại phú cho kệ Đắc Pháp Đại sư:
心 印 圓 明 悟 道 先
參 禪 了 達 透 真 源
拈 花 付 汝 如 來 藏
續 焰 玄 燈 萬 古 傳。
Phiên âm:
Tâm ấn viên minh ngộ đạo tiên,
Tham thiền liễu đạt thấu chân nguyên.
Niêm hoa phó nhữ Như Lai tạng,
Tục diệm huyền đăng vạn cổ truyền.
Nguyên Hồng dịch:
Tâm ấn viên minh ngộ đạo thiền
Tư duy thấu triệt lý chân nguyên
Cành hoa phú pháp Như Lai tạng
Nối ngọn đèn tâm vạn cổ truyền.
Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài xin y chỉ với Pháp thúc là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết; sau đó Ngài vào chùa Thiên Hưng học với Hòa thượng Huệ Pháp.
Năm Giáp Tý (1924), Ngài thọ Cụ túc giới tại giới đàn Từ Hiếu, Pháp tự là Vĩnh Thừa, Pháp hiệu là Viên Quang.
Năm Đinh Mão (1927), Ngài vào chùa Thập Tháp theo học với Hòa thượng Phước Huệ.
Năm Quí Dậu (1933), Ngài trở về Thuận Hóa, đến Ấp Cư Sĩ, làng Dương Xuân lập thảo am, đặt tên là Pháp Uyển Châu Lâm, nay là chùa Châu Lâm ở phía phải đường lên chùa Từ Hiếu; cách Nam Giao độ 01 km.
Năm Đinh Sửu (1937), Ngài được cử làm Trú trì Quốc tự Thánh Duyên.
Năm Mậu Dần (1938), Ngài được thỉnh làm đệ tam Tôn chứng tại giới đàn chùa Đại Bi tỉnh Thanh Hóa.
Năm Canh Thìn, Bảo Đại thứ 15 (1940), chùa Châu Lâm được vua "Sắc tứ".
Năm Tân Tị (1941), Ngài được mời làm Tăng cang chùa Diệu Đế.
Năm Nhâm Ngọ (1942) Ngài được Sơn Môn mời làm Trú trì chùa Từ Đàm. Đến năm Giáp Thân (1944), Ngài trở về chùa Châu Lâm giảng kinh và tiếp Tăng độ chúng.
Năm 1953, Ngài được mời làm Giáo thọ tại giới đàn Báo Quốc.
Vào buổi sáng ngày 14 tháng giêng năm Bính Thìn (1976), Ngài viên tịch. Thọ 81 tuổi đời và 60 hạ lạp.
