Tiểu Sử
Hành Trạng
Hòa Thượng Nguyên Ý Phước Châu (1944 - 2006)
Chùa Sắc tứ Tịnh Quang - Quảng Trị

Hòa thượng thế danh là Hoàng Văn Ngọc, Pháp danh: Nguyên Ý, Pháp tự: Phước Châu, Pháp hiệu: Hải Đăng. Hòa thượng sinh ngày 23 tháng 3 năm Giáp thân, tức ngày 15/4/1944 tại làng Trà Trì, xã Hãi Xuân, huyện Hãi Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thuộc dòng thiền Lâm tế, đời thứ 44.
Thân sinh là cụ Hoàng Lốt, Pháp danh Tâm Sướng, tự Chánh Tôn và cụ bà Lê Thị Hưng, Pháp danh Tâm Nghĩa. Hòa thượng con thứ ba trong gia đình có sáu anh chị em, gia đình nhiều đời thâm tín Tam bảo nên sớm có được thiện duyên gần gũi với chốn thiền môn, có nhiều túc duyên với Phật Pháp, nên chuyện xuất gia đã ươm mầm từ thuở nhỏ.
Rằm tháng tư năm 1956, theo chân Hòa thượng Chánh Trực lên chùa Phật học Quảng Trị, tham yết Trưỡng lão Hòa thượng Trừng Hóa - Hưng Dụng và được phép lưu trú ở đây gần một năm, sau đó lại lên đường vào Huế tham yết Trưỡng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, Giám đốc Phật học đường Trung Việt, Trú trì Tổ đình Báo Quốc, xin đầu sư xuất gia học đạo và được Ngài hứa khả.
Với bản chất hiền hồ, hiếu học, năm 1964 được thọ Sa di giới, Pháp tự là Thích Phước Châu.
Năm 1968, Hòa thượng được phép Bổn sư cho thọ giới Tỷ-Kheo tại giới đàn Phước Huệ, Phật học Viện Hãi Đức Nha Trang, trong thời gian này Hòa thượng là một cộng sự viên trợ tá cho Ban quản trị Phật Học Viện với chức vụ Thư ký, Quản Chúng.
Năm 1988, do nhu cầu của Phật sự tỉnh nhà Quảng Trị (lúc bấy giờ là huyện Triệu Hải, tỉnh Bình Trị Thiên) đặc biệt là Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang, Hòa thượng Trú trì lại cao tuổi, nơi thờ tự lại xuống cấp trầm trọng, nhân sự địa phương quá ít ỏi, thiếu thốn trăm bề, sau chiến tranh để lại muôn vàn khó khăn cho tỉnh Quảng Trị, Hòa thượng đã trở về quê hương sau lời mời của Ban Đại diện Phật giáo huyện Triệu Hải, tỉnh Bình Trị Thiên và Ban Quản trị Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang.
Thời điểm khó khăn nhiều mặt: nhân tâm thế đạo, khí hậu khắc nghiệt, cái nóng của xứ có gió Nam Lào, cái lạnh tê buốt của mùa đông tháng giá, Hòa thượng vẫn nở nụ cười hoan hỷ chăm lo Phật sự, thăm hỏi, bằng lời kinh tiếng kệ cho các gia đình có người ốm đau, quá cố, trao đổi một vài câu chuyện về giáo lý cho các Phật tử, việc làm hết sức bình thường nhưng rất thiết thực, hữu ích với đời lợi lạc cho đạo.
Năm 1990, khi Quảng Trị trở lại thành một tỉnh cũ, đại hội Phật giáo tỉnh Quảng Trị thành lập, Hòa thượng được suy cử giữ chức Phó ban Thường trực Ban Trị sự kiêm Trưởng ban Hướng dẫn nam nữ Phật tử.
Điều ưu tư lớn nhất của Hòa thượng trong thời gian này là việc tái thiết ngôi Tổ đình sắc tứ Tịnh Quang, mà cũng là ưu tư của Chư tôn đức Tăng Ni sinh quán tại Quảng Trị ở khắp mọi vùng trời. sau đó, một ban trùng tu được cung thỉnh và việc tái thiết bắt đầu, mà Hòa thượng là một trong những người trực tiếp trông coi. Nếu ai đã từng chứng kiến hình ảnh của Hòa thượng qua bộ nâu sòng lăn lộn trong công việc kiến tạo, nhắc nhở nhân công ắt sẻ lưu lại mãi hình ảnh ấy.
Đối với Hòa thượng, sống một cuộc đời đơn giản, trong những buổi dạy dỗ cho chúng đệ tử, Hòa thượng thường căn dặn, hãy lấy “tứ hoằng thệ nguyện, dể nâng mình lên với cuộc đời”
Hòa thượng tịch vào ngày 6 tháng 10 năm Bính Tuất (26/11/2006) sau một thời gian lâm bệnh nặng. Hòa thượng thọ 62 tuổi đời và 38 hạ lạp.
