HT Chơn Luận Phước Huệ

Tiểu Sử

Danh Tánh HT Chơn Luận Phước Huệ - Ðời Thứ 40 Tông Lâm Tế -
Sanh#1Năm Sanh1869
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Ngộ Thiệu Minh Lý - Ðời Thứ 39 Tông Lâm Tế
Đồng Môn ♂️ 0-HT Chơn Châu Vạn Thành
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ HT Không Tín Kế Châu - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế, ♂️ HT Không Hoa Huệ Chiếu - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế
Tịch#1Viên Tịch1945

Hành Trạng

Quốc Sư Chơn Luận Phước Huệ (1869 - 1945)
Chùa Thập Tháp - Bình Định

Quốc sư tên thật là Nguyễn Tấn Giao, sinh năm Kỷ Tỵ (1869), Tự Đức năm thứ 22 tại làng Bàn Thạch, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ Nguyễn Chánh Niệm, pháp danh Minh Thiện, tự Hòa Bình, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Lãnh, pháp danh Chơn Hóa, cả hai ông bà đều là những Phật tử thuần thành mộ đạo.
Năm lên 6 tuổi, Ngài theo song thân vào định cư tại làng Phú Thành, phủ An Nhơn, nay là ấp Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Năm 13 tuổi, Tân Tỵ (1881), Ngài được cha mẹ cho phép xuất gia tại chùa Thập Tháp, thọ giáo với Hòa thượng Ngộ Thiệu Minh Lý. Hành điệu tại đây được 5 năm, đến khi tuổi tròn 18, Ngài được Hòa thượng Bổn sư thế độ, ban cho pháp danh Chơn Luận, nối pháp đời thứ 40 tông Lâm Tế, truyền thừa theo bài kệ của tổ Vạn Phong Thời Ủy “..Hành siêu minh thiệt tế, liễu đạt ngộ chơn không…”.
Sau một thời gian hành điệu tại ngôi tổ đình lịch sử này, Ngài được Bổn sư cho tới học luật với Hòa thượng Từ Mẫn tại chùa Tịnh Lâm ở huyện Phù Cát, Bình Định. Đến năm 19 tuổi, Ngài trở về giữ chức Thủ khố của tổ đình Thập Tháp.
Năm Kỷ Sửu (1889), Thành Thái nguyên niên, được sự cho phép của Bổn sư, Ngài vào tỉnh Phú Yên tham học với các vị cao Tăng thạc đức như ngài Pháp Hỷ, Pháp Tạng, Quy Trụ v.v.. Cùng năm, Ngài thọ Đại giới tại giới đàn chùa Long Khánh-Quy Nhơn do tổ Chí Thanh làm truyền giới đường đầu Hòa thượng. Cũng trong năm này, Hòa thượng Minh Lý viên tịch, Ngài về lại Thập Tháp thọ tang và tu học tại đây.
Sau khi cư tang Bổn sư, Ngài về thăm viếng quê hương Quảng Nam, nghe danh Hòa thượng Tăng Cang Chí Thành là bậc thiền Tăng mô phạm đang hành hóa tại chùa Tam Thai trên núi Ngũ Hành, Ngài bèn tìm đến tham vấn, nhập chúng tu học tại đây. Sau một thời gian tham học, thông suốt yếu nghĩa thiền cơ, vào năm Nhâm Thìn (1892), Ngài được Hòa thượng Chí Thành ấn chứng, phú pháp hiệu là Phước Huệ, thọ ký Ngài về sau là bậc Phước Huệ lưỡng toàn, làm giềng mối cho Phật pháp trong tương lai.
Rộng bước vân du, Ngài đến kinh đô Huế tham học với các vị kỳ túc đương thời. Ban đầu Ngài đến ngụ tại chùa Phước Huệ, thôn Vỹ Dạ do ngài Chơn Tâm Pháp Thân khai sơn. Ngài Pháp Thân là dòng dõi Tuy Lý Vương nên ngôi chùa này được nhiều vị trong hoàng thân quốc thích cũng như tao nhân mặc khách lui tới viếng thăm. Qua sự giao lưu gặp gỡ, mọi người ai cũng mến mộ đạo phong và kiến văn quảng bác của Ngài. Năm Giáp Ngọ (1894), Hòa thượng Hải Thuận Lương Duyên khai giới đàn tại chùa Báo Quốc, Ngài được cung thỉnh làm Đệ nhất dẫn thỉnh sư.
Năm Giáp Thìn (1904), Ngài được cử làm trụ trì chùa Phổ Quang ở huyện Tuy Phước, nay ở xã Phướng Thuận. Chùa này là ngôi cổ tự do Thiền sư Minh Giác-Kỳ Phương (đệ tử tổ Nguyên Thiều) khai sơn từ đời chúa Nghĩa-Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691).
Năm Ất Tỵ (1905), Hòa thượng Chơn Châu Vạn Thành là sư huynh của Ngài đương kim trụ trì chùa Thập Tháp viên tịch. Vì thế, Sơn môn đã cung thỉnh Ngài về kế thừa trụ trì tổ đình Thập Tháp. Từ đây, đạo phong của Ngài ngày một sáng rỡ và được triều đình sắc phong Tăng Cang, ban cho khâm đao độ điệp.
Năm Mậu Thân (1908), Ngài được mời ra Hoàng cung thuyết pháp, đồng thời cũng để khai mở một khóa giảng kinh tại chùa Trúc Lâm. Các vua Thành Thái, Duy Tân và Khải Định đều mời Ngài vào cung giảng pháp. Đồng thời, Ngài chủ giảng tại các giảng đường Trúc Lâm và Tây Thiên. Vì vậy Ngài được triều đình, sơn môn đồ chúng tôn xưng Quốc sư.
Năm Canh Thân (1920), Ngài mở các lớp nội điển tại chùa Thập Tháp và Long Khánh. Năm Kỷ Tỵ (1929), Hòa thượng Giác Tiên mở Phật học đường tại chùa Trúc Lâm ở Huế, vào tận chùa Thập Tháp mời Ngài ra làm chủ giảng. Từ đó, năm nào Ngài cũng được thỉnh về chùa Trúc Lâm để giảng dạy Tăng sinh. Các đệ tử của Hòa thượng Giác Tiên là các Sư Mật Khế, Mật Nguyện, Mật Hiển và Mật Thể đều theo học với Ngài, và sau này đều trở thành những sứ giả Như Lai trụ cột cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Về hàng cư sĩ theo học tại Trúc Lâm, nổi bật nhất có Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám.
Nhờ có cơ sở hoằng pháp này mà năm Nhâm Thân (1932), Quốc sư cùng với các bậc tôn túc ở đất Thần kinh thành lập hội An Nam Phật Học và xuất bản tờ báo Viên Âm, cổ xúy phong trào chấn hưng Phật giáo. Nhiều Phật học đường từ Tiểu học đến Đại học được mở ở các chùa Trúc Lâm, Tây Thiên, Kim Sơn, Báo Quốc, Diệu Đức v.v...Cuối năm 1934 một lớp Đại học mở tại chùa Trúc Lâm do Thiền sư Giác Tiên làm Giám đốc và một lớp Trung học mở tại chùa Tường Vân do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết trông nom, Quốc sư được cử làm Đốc giáo giảng dạy cả hai lớp này. Lớp Trung học có nhận những học Tăng trong Nam do hội Lưỡng Xuyên Phật Học gửi ra như các vị Thiện Hòa, Thiện Hoa, Hiển Thụy, Hiển Không, Chí Thiện v.v....
Tháng 5 năm Mậu Dần (1938), Ngài về ở hẳn tại Bình Định, không ra Huế giảng dạy nữa, phần vì tuổi cao sức yếu, phần vì phải đảm nhận làm Đốc giáo cho Phật học đường cấp Trung đẳng mở tại chùa Long Khánh, do Hội Phật Học Bình Định thiết lập. Chính vì vậy mà nhiều học Tăng lớp Đại học ở Huế trong đó có cả các vị do hội Lưỡng Xuyên Phật học gửi ra, cùng theo vào tiếp tục học nơi Phật Học Đường Long Khánh, Bình Định.
Năm Giáp Tý (1924), Ngài tiến hành xây dựng cổng Tam Quan và phương trượng tại chùa Thập Tháp rất uy nghiêm. Ngài có công rất lớn trong việc trùng tu lại Tổ đình Thập Tháp được khang trang, tạo nơi đây thành một trung tâm Phật giáo của tỉnh Bình Định. Đồng thời, Ngài khai sơn chùa Phước Long tại thị trấn Phú Phong thuộc xã Bình Phú, huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
Quốc sư Phước Huệ là cây đại thụ của nền Phật giáo không chỉ ở Trung kỳ, mà còn tỏa bóng xuống phần đất Nam kỳ nữa. Chính Ngài là vị giảng sư nòng cốt của các trường Đại học Phật giáo ở Huế và Bình Định trước và sau thời điểm khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Trung.
Sau bao năm cống hiến tài năng, sức lực, và tâm huyết cho công cuộc xây dựng tòa lâu đài Phật giáo, vào ngày 18 tháng giêng năm Ất Dậu (1945) Quốc sư Phước Huệ viên tịch tại Tổ đình Thập Tháp, thọ 76 tuổi đời, được 56 giới lạp. Đồ chúng và thiện tín xây tháp trong vườn chùa để tôn thờ Ngài. Bấy giờ Hòa thượng Chơn Giám Trí Hải trụ trì chùa Bích Liên Bình Định đề 4 câu thơ tại tháp như sau:
Nguy nhiên nhất cao tháp
Độc tọa Đồ Bàn đông
Ngoại thị hữu vi tướng
Trung tàng vô tướng Ông
Nghĩa là:
Đồ Bàn thành cũ về đông
Một tòa bảo tháp thẳng xông lên trời
Hữu tình hữu hoại đổi dời
Chân không diệu thể sáng ngời bên trong.
Hòa thượng Kế Châu dịch
Hòa thượng Phước Huệ là một trong những vị thiền sư đa văn quảng bác, đóng góp rất nhiều trong công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam ở những thập niên đầu và giữa thế kỷ XX. Sự thâm sâu Phật pháp của Ngài đã được người đời xưng tụng bằng mỹ hiệu:"Phật pháp thiên lý câu" nghĩa là Con ngựa ngàn dặm của Phật pháp. Điều này đã được Thiền sư Khánh Hòa (1877-1947) thuật lại như sau ".... Tôi đã ba năm nghiên cứu bộ Thành Duy Thức Luận mà như người đi vào rừng rậm không tìm được lối ra, Đến năm Đinh Mão, nhờ Ban tổ chức trường hương chùa Long Khánh (Quy Nhơn) mời tôi làm Pháp sư, tôi được may mắn gặp Hòa thượng Thập Tháp. Tôi thuật lại sự khó khăn trong việc nghiên cứu Thành Duy Thức Luận của mình. Hòa thượng Thập Tháp nghe xong liền đem biếu tôi quyển 'Đại thừa bá pháp minh môn luận chuế ngôn' và nói: 'Tôi xin biếu Ngài một cái chìa khóa để mở kho Duy Thức. Người nghiên cứu Duy Thức mà trước không đọc luận này thì cũng như người gỡ nùi tơ rối mà không tìm được mối. Vậy Ngài nên đọc quyển luận này cho kỹ rồi nghiên cứu Thành Duy Thức, Ngài sẽ thấy dễ dàng... "
Tuy ở ngôi giáo phẩm cực cao muôn người kính ngưỡng, nhưng rất ít khi nào Hòa thượng nói về tự tích của mình. Mỗi khi môn đồ hoặc học trò hỏi đến, Ngài chỉ nói: “Thời thường sanh ngu, tử trí, bia sử hay có lời nói thêm, vì vậy tôi không muốn ai viết về đời tôi, sợ người hiểu lầm mà tôi bị mang tội với Phật”.
Điểm đặc biệt của đời Ngài là tuy đa văn quảng bác nhưng Ngài không biên soạn trước tác chú giải bất cứ một bộ kinh nào. Phải chăng Ngài muốn đàn hậu học phải trực tiếp tụng đọc kinh điển, tự thân hành trì để hiểu thấu lời Phật dạy chứ không phải hiểu Phật pháp qua ngôn ngữ trầm phù. Bút tích của Ngài lưu lại chỉ vỏn vẹn có lời tựa trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược của Hòa thượng Mật Thể như sau: "Giữa mùa xuân năm Quý Mùi, Pháp sư Mật Thể vào Nam thăm, lấy trong tay áo bản thảo cuốn Việt Nam Phật giáo sử viết bằng Quốc văn đưa cho tôi mà nói: "Đây là công trình sưu tầm biên khảo nhiều năm của con, xin Hòa thượng đọc và chứng minh cho". Tôi tiếp nhận bản thảo mà đọc. Mỗi khi đêm vắng dưới ngọn đèn khói cao, cầm bản thảo nơi tay tôi tự nói một mình là Pháp sư tuy đã theo học với tôi trong nhiều năm nhưng tôi chưa biết được hết chí hướng và nguyện vọng của ông... ".
Với những công đức lớn lao như thế, nên vào năm Canh Tuất (1970), để tưởng niệm công đức Quốc sư Phước Huệ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Bình Định đã chọn pháp hiệu của Ngài đặt tên cho một Phật học viện mới thành lập tại Tổ đình Thập Tháp: Phật học viện Phước Huệ. Đồng thời, các đàn giới sau nầy đều lấy tên của Ngài để đàn hậu học được noi theo. Hằng năm, vào ngày 18 tháng Giêng, Tăng Ni tín đồ khắp nơi trong nước đều vân tập về tổ đình Thập Tháp để làm lễ tưởng niệm ngày Ngài viên tịch.

---o0o---

Tỳ Kheo Ni Diệu Tâm Với Bản Kinh “Kim Cang” Thêu Trên Lụa
I.Tỳ Kheo Ni Diệu Tâm
Tỳ kheo ni Diệu Tâm tên tục là Nguyễn Thị Nhu, con của Đạt Vũ hầu Nguyễn Gia Ngô và quận chúa Trịnh Thị Ngọc Tuân, tức là em gái của Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều và là cháu ngoại của chúa Trịnh Cương.
Chúng ta chưa rõ năm sinh của bà, nhưng qua việc anh cả của bà là Nguyễn Gia Thiều sinh năm 1741, cha của bà là Nguyễn Gia Ngô chết năm 1757, như vậy bà sinh trong khoảng 1741 - 1757, ngoài ra bà là con gái thứ 12 trong số 20 con gái, vì vậy bà sinh vào khoảng 1745 - 1750.
Tỳ kheo ni Diệu Tâm sinh tại làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, đạo Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay).
Năm 20 tuổi, bà Nguyễn Thị Nhu đi tu, gia đình không biết đi đâu? Gia phổ họ Nguyễn Gia có ghi “Đến năm 20 tuổi thì đi tu, sau đó không biết đi đâu” (Nhị thập tuế đầu thiền, hậu bất tri sở vâng).
Bà đến tu ở chùa Phổ Quang, núi Sài Sơn (huyện Quốc Oai, Sơn Tây), quy y với Sư bà Diệu Di, sau đó thọ Đại giới và sau cùng, Tỳ kheo ni Diệu Tâm lên trụ trì chùa Sài Sơn.
Tỳ kheo ni Diệu Tâm vốn là dòng họ quý tộc, lớn lên trong cảnh hỗn loạn nhiễu nhương của xã hội Đàng Ngoài, sự tranh giành quyền hành đẫm máu với những âm mưu thủ đoạn thâm độc giữa vua Lê, chúa Trịnh và tàn nhẫn hơn nữa là sự tranh đoạt ngôi vị chúa ở trong nội bộ phủ chúa Trịnh. Những cảnh bất công tàn ác, những nỗi khổ của dân nghèo, của các thiếu nữ đẹp bị tuyển vào cung vua Lê, phủ chúa Trịnh... Những nỗi đau khổ của cuộc đời, sự biến đổi vô thơờng của quyền tước, danh lợi, sự thâm độc tàn ác của con người, cảnh tàn sát chém giết lẫn nhau của con người... làm cho bà Nguyễn Thị Nhu vốn đã được giáo dục từ nhỏ trong gia đình quý tộc, thấy rõ và thâm hiểu giáo lý của đạo Phật; vì vậy bà đã tự quyết định xuất gia, tu hành để thoát khỏi biển khổ của cuộc đời.
Mấy chục năm ẩn dật tu hành ở chùa Phổ Quang, sau được đưa về trụ trì chùa Sài Sơn của Tỳ kheo ni Diệu Tâm, hiện chúng ta không có tài liệu nên không được biết rõ.
Năm 1786, xảy ra cuộc thay đổi chấn động ở Đàng Ngoài, chế độ thống trị của vua Lê-chúa Trịnh được xây dựng và củng cố hơn 200 năm ở Đàng Ngoài đã bị nhà Tây Sơn, thuộc giới dân quê nghèo, lật đổ nhanh chóng qua cuộc tấn công vũ bão của Bắc Bình Vương Nguyễn Văn Huệ. Hoàng gia nhà Lê, Hoàng tộc chúa Trịnh, các đại thần của triều đình vua Lê-chúa Trịnh... bị sụp đổ nhanh chóng sau trận chiến chớp nhoáng của nhà Tây Sơn.
Sau những cái chết đau đớn của Đoan Nam vương Trịnh Khải và cái chết vì bệnh già của vua Lê Hiển Tông, đúng như trong câu thơ trong Cung oán ngâm khúc của anh cả của bà:
Trăm năm còn có gì đâu,
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.
Kế đến là cuộc chém giết nhau để tranh giành quyền hành của vua Lê Chiêu Thống và Án Đô vương Trịnh Bồng, cuộc thanh toán đẫm máu của kẻ tham danh đoạt lợi đưa đến cái chết của Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh, Tiết chế Võ Văn Nhậm... đúng như các câu thơ:
Mồi phú quí như làng xa mã
Bã vinh hoa lừa gã công khanh
Hay:
Giấc Nam kha khéo bất bình
Bừng con mắt dậy,thấy mình tay không.
Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.
Sau cùng là cuộc xâm lăng của nhà Thanh và chiến thắng mùa Xuân Kỷ Dậu (1789) của vua Quang Trung, trả giá bằng cái chết của hàng chục ngàn binh lính, bao nhiêu cung điện nhà cửa, tài sản dân chúng bị thiêu hủy...
Với những biến cố kinh thiên động địa xảy ra dồn dập ở Bắc Hà vào những năm 1786 - 1789, làm cho Ni sư Diệu Tâm quyết chí xả thân cho Phật pháp. Bà muốn lưu lại cho thế gian một pháp bảo trước khi về cõi Tây phương, nên bà gia công thêu bản “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” gồm 7.000 chữ, thêu một chữ trong bản kinh, bà niệm chú 10 biến Tâm Kinh Bát Nhã; việc làm Phật sự đó Thực hiện nhiều năm mới hoàn tất.
Bản kinh Kim Cang được thêu xong vào ngày mùng 1 tháng 11 năm Cảnh Thịnh thứ 8 (16/12/1800), sau đó Ni sư Diệu Tâm hỏa thiêu xác thân cúng dường chư Phật.

II.Bản Kinh “Kim Cang” Thêu Trên Lụa Của Tỳ Kheo Ni Diệu Tâm

Tỳ kheo ni Diệu Tâm thêu xong bản kinh Kim Cang tại chùa Sài Sơn (Sơn Tây) vào cuối năm 1800. Nhưng sau đó không biết bản kinh lụa đó được lưu giữ và lưu lạc như thế nào mà mãi đến năm 1935, bản kinh này được Sư bà Diệu Không (trụ trì chùa Hồng Ân ở Huế) tìm được tại Huế do một nhân duyên hết sức huyền bí.
1.Nhân duyên tìm lại được bản kinh:
Vào khoảng năm 1920 - 1935, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam được phát động và phát triển mạnh ở cả ba miền Nam-Trung-Bắc của nước Việt Nam, Hòa thượng Thập Tháp tức Quốc sư Phước Huệ(1) ra Huế thuyết giảng đạo pháp trong Hoàng cung của các vua nhà Nguyễn (từ vua Thành Thái (1889 - 1907) đến vua Duy Tân (1907 - 1916), Khải Định (1916 - 1925) và Bảo Đại (1926 - 1945) và là Pháp sư chủ yếu của các Phật học đường Trúc Lâm, Phật học đường Tây Thiên, Phật học đường Báo Quốc và trường Sư nữ Diệu Đức ở Huế.
Lúc Hòa thượng Thập Tháp giảng kinh Kim Cang cho thái hậu, vào thời vua Thành Thái, nhân đó bà Hoàng Thái hậu đưa cho Hòa thượng xem 1 hộp trầm có chạm trổ hình đức Phật và các hoạt động Phật sự, trong đó có đựng một bản kinh thêu trên lụa. Đến năm 1935, Hòa thượng không thấy hộp kinh đó nữa.
Hòa thượng Thập Tháp kể cho đệ tử là bà Diệu Không và bảo bà vào dò hỏi trong cung Thái hậu vì bà Diệu Không thuộc trong dòng họ quý tộc ở kinh đô Huế. Bà Diệu Không vào yết kiến Thái hậu Từ Cung (mẹ của vua Bảo Đại) và hỏi về cái hộp đựng kinh đó, nhưng bà Thái hậu nói là chưa hề thấy cái hộp nào giống như thế ở trong cung.
Sau khi dò hỏi mà không biết manh mối về hộp đựng kinh đó, Hòa thượng Thập Tháp bảo bà Diệu Không đảnh lễ và cầu nguyện Bồ tát Quán Thế Âm. Bà Diệu Không vâng lời, mỗi ngày đảnh lễ trước điện Bồ Tát Quán Thế Âm và trì chú Đại Bi, tụng kinh Kim Cang. Sau 3 tháng chí tâm công phu và cầu nguyện, một hôm tự nhiên bà Diệu Không nảy ra ý kiến mới là: Muốn tìm di vật trong cung vua xưa thì phải tìm các bà cung nữ già, mà lúc đó các cung nữ già đều ở các lăng tẩm để lo cúng tế lễ bái. Vì vậy, sáng sớm hôm đó, bà Diệu Không đi thuyền để vào các khu lăng tẩm ở Huế để tìm hỏi các bà cung nữ già.Thật bất ngờ,ngay trên chuyến đò để đi vào khu lăng tẩm, bà Diệu Không tình cờ gặp được một cung nữ già và bà này cho biết là khi xưa hầu trong cung có thấy chiếc hộp như diễn tả, nhưng không biết trong đó đựng vật gì vì không được phép mở ra xem, chỉ biết cái hộp đó được Thờ trên bàn Phật, mỗi năm chỉ thỉnh xuống hai lần để lau chùi cho sạch nhân dịp Tết Nguyên đán và lễ Phật Đản. Nhưng bà cung nữ nói là sau thời gian ở cung đó, bà đã được đổi sang hầu ở nơi khác nên không biết hộp đó còn hay không. Bà Diệu Không hỏi tiếp: “Sau khi bà đổi đi thì ai vào thay thế nhiệm vụ bà ở đó?”. Bà cho biết là có một viên đội đến thế. Bà Diệu Không hỏi bà có biết nhà viên đội đó không. Bà nói là biết, nên bà Diệu Không đưa cho bà cung nữ già một số tiền và nhờ bà đi đến quê nhà của viên đội đó để hỏi giùm về cái hộp đó.
Sau đó, bà Diệu Không về tiếp tục đảnh lễ và cầu nguyện Bồ tát Quán Thế Âm. Một thời gian sau, vào một buổi sáng, có một người đàn bà đem cái hộp bọc trong cái khăn lông to đưa cho bà Diệu Không, hỏi có phải đúng như cái hộp bà đang tìm không? Bà Diệu Không nhìn thấy hộp đúng như lời miêu tả của Hòa thượng Thập Tháp nên rất mừng định mở hộp ra để xem nhưng không mở được vì hộp có khóa, lúc lắc thì nghe có vật đựng trong đó, mà không biết là vật gì.
Bà Diệu Không đem hộp trầm đó đến trình với Hòa thượng Thập Tháp, Hòa thượng dùng một cây kim vặn nhẹ vào lỗ khóa thì nắp hộp mở bật ra. Sở dĩ Hòa thượng mở khóa một cách nhẹ nhàng và dễ dàng như thế là nhờ khi trước, bà Thái hậu mở, Hòa thượng thấy cách mở hộp trầm đó.
Sau khi mở ra, thấy trong hộp có một tấm lụa cuốn tròn lại, một dao nhỏ mỏng bằng ngà, một cái quạt nhỏ.
2.Bản kinh “Kim Cang” thêu trên lụa:
Hộp đựng bản kinh thêu:
Hộp làm bằng gỗ trầm hương, dài 29cm, rộng 10cm, cao 7,7cm. Nắp hộp gắn với hộp bằng hai bản lề nhỏ, phía đối diện hai bản lề là ổ khóa nhỏ (nhưng không có chìa), ổ khóa và bản lề đều làm bằng đồng.
Hộp không có sơn thếp mà chỉ để nguyên màu gỗ tự nhiên, nhưng chạm trổ những hình nhỏ rất tinh xảo, chạm trổ ở khắp các mặt ngoài của hộp, trừ mặt đáy.
Mỗi mặt đều có hình ảnh nhà cửa, cây cối và người. Trên nắp hộp, xung quanh có đường viền hoa văn, ở giữa là hình một cái gác cây hai từng, giống như các gác trống hay gác cổng đình chùa ở miền Bắc. Gác này như một nhà thủy tạ trên bờ hồ, xung quanh căn gác là cây cảnh và người.
Hình người diễn tả sinh hoạt của Phật giáo, có hình của các vị sư và Phật tử đi viếng chùa, hành hương. Trong đó có hình một vị sư đang đọc sách, nơi khác là hình các vị sư đang ngồi đàm đạo. Bên cạnh đó là hình các Phật tử đang đi đến chùa có mang lễ vật nâng trên hai tay cung kính như dâng lên lễ Phật. Cây cối khắc trên hộp là cây hoa sứ và cây liễu.
Trên một chiếc hộp nhỏ mà chạm trổ dày đặc với nhiều hình người, gác cây, cây cối như thế nên rất công phu, chạm khắc rất tỉ mỉ tinh vi, nhưng không được thanh thoát nhẹ nhàng.
Bản kinh thêu:
Bản kinh thêu dài 4,47m, rộng 0,243m, bản kinh được ghép làm hai lớp:
- Lớp trên là lụa màu vàng, trên có thêu hình và chữ của toàn bản kinh, khung được thêu theo văn hình chữ T nằm ngược nhau và nối tiếp nhau.
- Lớp dưới là lớp nhiễu điều, dệt hoa lá và bướm, không có thêu gì cả, chỉ dùng để lót cho bề mặt của bản kinh mà thôi.
Các tấm lụa và nhiễu này được nối với nhau rất khéo, nhìn kỹ mới thấy mối nối.
Bề mặt bản kinh là tấm lụa vàng, trên có thêu, từ trên xuống gồm có:
1/- Ở trên hết là hình đức Phật Thích Ca ngồi thiền định trên tòa sen. Hình đức Phật được thêu trên nền một cánh hoa sen lớn màu hồng nhạt và màu bạc. Nằm lót dưới hoa sen đó là lá bồ đề màu xanh lá cây.
Trong lòng cánh hoa sen có thêu 2 dòng chữ:
Vương nghiệp cầu vô cương
Pháp luân thường chú chuyển
(Cầu cho vương nghiệp lâu dài mãi mãi,
Phật pháp được luân chuyển lưu truyền không dứt).
2/- Kế đến là bài tựa thứ nhất gồm 248 chữ, mở đầu là câu: “Thái thượng Hoàng đế ngự chế Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa kinh (Thái thượng Hoàng đế viết về kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa). Nội dung chính của bài này là ca ngợi sự uyên thâm của giáo lý đạo Phật trong kinh Kim Cương, trong đó nhắc đến câu nổi tiếng nhất của kinh này là “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, có nghĩa là “Rèn sinh cái tâm không vướng mắc, không dựa vào đâu cả, tức tâm không, tâm như như”. Nhờ câu kinh này, nhiều vị thiền giả xưa đã giác ngộ được, từ Lục Tổ Huệ Năng đến vua Trần Thái Tông...
Cuối bài tựa này có viết: “Trẫm từ khi lên ngôi, bao giờ cũng dùng đạo để cai trị thiên hạ. Ngày nay, tuổi đã lớn, được sống nhàn hạ, muốn nuôi dưỡng chân lý của trời, mong được phước đức yên ổn, làm được việc thiện là lấy làm vui, để hết tinh thần vào các đoạn huyền diệu và tìm hiểu lý lẽ sâu kín của chân kinh, rồi bảo các nhà sư in thành sách cho đẹp để truyền bá sâu rộng trong thiên hạ hầu mong mọi người đều hiểu rõ được ý nghĩa huyền diệu thâm sâu của kinh này”.
Kính cẩn ghi vào ngày tốt, tháng 6 năm Kỷ Mùi, năm Cảnh Thịnh thứ 7 (tháng 7 năm 1799).
3/- Bài tựa thứ hai ghi là: “Ngự chế Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh tựa” (Vua viết bài tựa kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật). Bài tựa này gồm 905 chữ, mở đầu như sau: Trẫm nghĩ rằng đạo Phật thâm sâu huyền diệu, cảm thông được một cách thần diệu, lấy tâm từ bi để đem lại điều lợi đến cho mọi vật, dùng trí tuệ để giác ngộ cho mọi người, vượt hẳn lên trên vạn hữu để được tự tại (vô ngại) trải qua nhiều kiếp mà không bai giờ bị hủy hoại, có trước trời đất mà không biết khởi thủy từ lúc nào, tồn tại mãi mãi về sau trời đất mà cũng chẳng biết bao giờ kết thúc. Trong giáo lý đạo Phật, kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật là có giá trị cao sâu hơn hết.
Đức Như Lai đã dùng sự giác ngộ siêu việt và tâm từ bi rộng lớn thơơng xót cho sự si mê, trầm luân của người đời mà nghĩ đến sự vô minh tăm tối của chúng sinh, nên thuyết giảng kinh này để cho mọi người thấy rõ được phương cách để cởi bỏ những ràng buộc của cuộc đời, rửa sạch được bụi đời, giải thoát được cõi trần thế, ra khỏi vòng luân hồi sinh tử, lên cõi Niết bàn, chuyển si mê thành trí tuệ, bỏ tăm tối thành ra sáng suốt, đó là công đức to lớn của kinh này”.
Đoạn kế tiếp khuyên mọi người nên tụng niệm tu học theo kinh này để đạt đến giác ngộ.
Đoạn cuối của Bài Tựa kể về xuất xứ về sự biên tập, phiên dịch quyển kinh và tác giả dịch kinh từ chữ Phạn ra chữ Nho, sự lưu truyền quảng bá sâu rộng của kinh và hiệu năng của việc tu luyện theo kinh.
Bài tựa kết thúc bằng câu chuyện cổ tích: Gia đình ông Thi Đà La nguyên làm nghề giết dê để bán, nhưng sau đó nhờ hiểu được Phật pháp, không giết dê nữa và làm nhiều việc Phật sự nên con cái được hưởng nhiều quả tốt lành.
Bài tựa này lấy danh nghĩa là vua Cảnh Thịnh viết, nhưng có lẽ là Thiền sư Hải Lượng tức Ngô Thời Nhiệm viết?
Sau Bài Tựa thứ hai này là bài tán dài 308 chữ và một bài kệ dài 40 chữ.
4/- Kế đến là nguyên văn kinh “Kim Cương Bá Nhã Ba La Mật” gồm 32 phần, dài gần 5.000 chữ.
5/- Hình Hộ Pháp đứng hai tay nâng thanh kiếm nằm ngang, thêu 5 màu. Hình cao 9cm, rộng 5cm, thêu ngay trên lụa.
6/- Bài bạt hậu:
Cuối bản văn thêu là bài bạt hậu mang tựa đề là “Bài bạt sau cùng nói về việc thêu chữ bản kinh Kim Cương (Kim Cương kinh trang kim tự bạt hậu)” như sau:
“Ngày xưa, đức Thế Tôn xuất gia năm 19 tuổi, thành đạo năm 30 tuổi. Người dì thành tâm dệt một tấm gấm đẹp đem cúng dường đức Phật. Đức Phật xót thương tấm lòng thiết tha cúng dường mong muốn hưởng được phước đức về sau nên nhận lấy mà xem, rồi đem phân phát cho nhiều người, khiến về sau người dì hưởng được nghiệp quả tốt lành.
Kinh Kim Cương gồm 32 phần, xưa nay được biên chép để lưu hành phổ biến. Đến nay, một Phật tử xuất gia là Diệu Tâm với tâm mộ đạo thành kính, xin phát nguyện đứng ra khuyến khích những người có tâm đạo cúng tiền mua gấm quí và chỉ đẹp để thêu và xem đây là một việc làm rất quan trọng.
Trong kinh có nói rằng: “Trang nghiêm Phật độ là chẳng phải trang nghiêm, mà gọi là trang nghiêm”, nghĩa lý rất huyền diệu, công đức thật lớn lao.
Ngài Tổ sư khi ca ngợi vị minh quân trong một bài kệ có nói rằng: “Một giọt mồ hôi của nhà vua cũng làm cho đời mát mẻ”. Môn đồ của đạo Phật nhiều vô cùng, đều được soi sáng, công đức ấy thật khó mà đền đáp được và không thể nào quên được.
Tôi nay quê quán tại làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, đạo Kinh Bắc, nước An Nam, xuất gia tu hành, trụ trì chùa Sài Sơn, pháp hiệu là Diệu Tâm, cung kính nhờ Thiền sư Hải Khâm ở chùa Bửu Quang tại Hội Ninh chứng minh cho lời bạt này và còn có sự chứng giám của tôn sư tôi là Sư nữ Diệu Di đang tu hành ở chùa Phổ Quang tại Sài Sơn.
Kính dâng lên cho cha đã mất là tướng công họ Nguyễn (Nguyễn Gia Ngô) tự là Di Lạc, và cho mẹ đã chết là Công chúa Quỳnh Liên, họ Trịnh Ngọc (Trịnh Ngọc Tuân), hiệu là Trung Từ, được tặng thụy hiệu là Trinh Thục.
Những người đã có công đóng góp và trợ duyên để Thực hiện bản văn thêu này gồm có:
- Một đồng đạo trong giới xuất gia là Diệu Bình cúng kim tuyến.
- Bà Nguyễn Thị Định hiệu là Thiện Trung, con gái của bà là Nguyễn Thị Hoàn hiệu Thiện Tài và con rể là Phan Huy Thực cúng 1 thước gấm.
Xin cầu nguyện cho tổ tiên của người chủ trì làm bản văn thêu này và tổ tiên của những người có lòng tốt hộ giúp những thứ trên được siêu thăng miền Tịnh độ, thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ để kiếp kiếp thấy được Phật và đời đời được nghe kinh”.
Ghi ngày mùng 1 tháng 11 năm Cảnh Thịnh thứ tám (Cảnh Thịnh bát niên, thập nhất nguyệt, sơ nhất nhật, ký) (tức ngày 16 tháng 12 năm 1800).
7/- Ở trên đầu và ở hàng chót của bản kinh thêu có đóng dấu ấn vuông màu đỏ, cạnh 29cm, trên có khắc hai chữ triện “Nội tệ” (Tệ: tặng vật bằng lụa).

 

 

This entry was posted in . Bookmark the permalink.