ĐS Thích Tuệ Viễn

Tiểu Sử

Danh Tánh ĐS Thích Tuệ Viễn - Khai Tổ Liên Tông Trung Hoa -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápĐS Thích Đạo An
Đồng Môn ♂️ TS Thích Tăng Phú, ♂️ TS Thích Tuệ Trì, ♂️ TS Thích Tăng Lãng, ♂️ 0-TS Tuệ Tử, ♂️ TS Thích Đàm Giới, ♂️ TS Thích Đạo Lập, ♂️ TS Thích Đàm Huy, ♂️ TS Thích Đàm Dực, ♂️ TS Thích Pháp Ngộ, ♂️ TS Thích Tuệ Vĩnh
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-ĐS Thích Đàm Tiên, ♂️ 0-ĐS Thích Ðàm Thuận, ♂️ ĐS Thích Tăng Tế, ♂️ ĐS Thích Đàm Ung, ♂️ 0-TS Đạo Thụ, ♂️ 0-TS Đạo Hằng, ♂️ 0-TS Đàm Tẩy, ♂️ ĐS Thích Đạo Tổ, ♂️ ĐS Thích Đạo Uông, ♂️ TS Thích Tăng Triệt, ♂️ 0-TS Tuệ Yến, ♂️ 0-TS Đàm Ấp, ♂️ 0-TS Pháp Lĩnh, ♂️ 0-TS Tuệ Bảo, ♂️ ĐS Thích Pháp An, ♂️ 0-TS Pháp Tịnh, ♂️ 0-TS Pháp U

Hành Trạng

Thích Tuệ Viễn: Ngài họ Giả, người ở Lâu Phiền, Nhạn Môn, thuở nhỏ thích đọc sách, năm mười ba tuổi theo cậu Lệnh Hồ đến học ở Hứa Lạc. Vì vậy nên tuổi nhỏ mà đã vì chúng sanh. Thông suốt lục kinh, giỏi nhất về Lão, Trang. Bổn tánh siêu phàm trác tuyệt, tư chất thông minh hơn người. Dù là bậc túc Nho lão luyện, tài ba cũng đều khâm phục chỗ thông đạt của Ngài.

Năm hai mươi mốt tuổi Ngài muốn sang Giang Ðông gặp Phạm Tuyên Tử để cùng an cư. Nhưng gặp lúc Thạch Hổ đã chết nên vùng Trung Nguyên giặc dã nổi loạn, đường về phương Nam bị bế tắc, chí nguyện không thành. Khi ấy Ngài Ðạo An lập chùa ở Hằng Sơn, Thái Hành, hoằng dương giáo pháp, tiếng tăm lừng lẫy. Ngài Tuệ Viễn bèn tìm đến nương ở. Vừa gặp mặt thì hết lòng cung kính, cho rằng đây là vị chân sư của mình. Sau đó nghe Ngài Ðạo An giảng kinh Bát-nhã, Ngài có chỗ sở ngộ. Bèn than rằng: " Chín phái Nho, Ðạo đều là trấu cám mà thôi ". Rồi cùng với em mình là Tuệ Trì xuất gia làm Sa-môn quên thân học đạo. Khi đã nhập đạo thì nổ lực siêng năng vượt trội hơn chúng. Ngài luôn có tâm niệm muốn thâu tóm các cương yếu của kinh điển, lấy việc hoằng dương đại pháp làm nhiệm vụ của mình, đêm ngày siêng năng hành trì tham cứu, sống một cuộc đời vô sản, y áo thô sơ, mà anh em vẫn một mực kính nhường, trước sau không dám giải đãi. Có Sa-môn Ðàm Dực thường cung cấp chi phí hương đèn. Ngài Ðạo An biết vậy vui vẻ nói rằng: “Ðạo Sĩ thật là biết người”. Viễn tịch tuệ giải nơi nhân đời trước, phát tâm từ nhiều kiếp mới thông minh, cơ trí, trác tuyệt như vậy. Ngài Ðạo An thường khen: : " Kẻ khiến cho đạo hưng thạnh ở nước ta là Viễn vậy ".

Năm hai mươi bốn tuổi Ngài bèn thăng tòa thuyết pháp, có lần vị khách nghe ngài giảng, than rằng nghĩa thật tướng Ngài giảng tới lui nhiều lần càng tăng thêm sự ngờ vực. Ngài Tuệ Viễn liền dẫn nghĩa Trang Tử có liên hệ đến đề tài này làm cho những người chưa hiểu được tỏ tường. Sau đó ngài Ðạo An đặc biệt cho phép Ngài được nghiên cứu ngoại điển. Ngài Ðạo An có hai vị đệ tử là Pháp Ngộ và Ðàm Huy. Ðều là những bậc tài năng sáng lạng, đạo hạnh xuất chúng, cả hai đều bội phục ngài Tuệ Viễn. Sau đó Ngài theo thầy về phương Nam đến Phiền Miện. Lúc đó vào niên hiệu Kiến Nguyên thứ chín đời Nguỵ Tần, có vị tướng tên Phù Bình nổi loạn cướp phá Tương Dương, ngài Ðạo An bị Chu Tự quản thúc nên không thể đi được. Ngài phân chia đồ chúng mỗi người mỗi ngã theo sở thích của họ, cả đồ chúng đều được thầy dặn bảo cặn kẻ, chỉ riêng ngài Tuệ Viễn là thầy không nói lời nào, Ngài quỳ xuống thưa rằng: “ Chỉ mình con không được dạy bảo, e rằng sau này con chẳng làm bậc mô phạm cho người”.

Ngài Ðạo An nói:

- Là con thì ta còn lo gì.

Thế rồi, ngài Tuệ Viễn cùng với mấy mươi người đệ tử đi về phương Nam, qua Kinh châu trú tại chùa Thượng Minh. Sau đó lại muốn sang núi La-phù, vừa đến Tầm Dương thấy Lô Sơn là một ngọn núi yên tĩnh để tu hành. Ban đầu Ngài ở tịnh xá Long Tuyền, nơi đây cách nước khá xa, Ngài bèn chống tích trượng xuống đất khấn rằng: ” Nếu nơi này có thể ở được thì hãy khiến cho vùng đất khô cằn này thành dòng nước”. Ngài vừa dứt lời bổng nhiên có một dòng nước trong xanh vọt ra và biến thành suối. Sau đó không lâu ở Tầm Dương nắng hạn, Ngài đến bờ ao đọc kinh Hải Long Vương, chợt có một con rồng từ ao vọt lên hư không, lát sau trời đổ mưa lớn.

Năm ấy mùa màng trúng vụ, nhân đó Ngài đổi tên tịnh xá thành chùa Long tuyền. Lúc ấy có vị Sa-môn tên là Tuệ Vĩnh ở chùa Tây Lâm đồng thời là đồng môn với ngài Tuệ Viễn, thuở xưa thích ở chung với Ngài. Tuệ Vĩnh bảo thứ sử Hoàn Y rằng:

- Ngài Tuệ Viễn mới đúng là bậc hoằng đạo. Nay đồ chúng đã đông mà người tin đến học đạo càng nhiều, bần đạo ở chỗ chật hẹp không đủ để ở chung.

Hoàn Y đáp:

- Thế sao?

Rồi ông bèn xây dựng Ðông Lâm cho ngài Tuệ Viễn ở, tức là chùa Ðông Lâm vậy. Ngài Tuệ Viễn lập một ngôi tịnh xá, động nhiều suốt cả núi, lại dựa vào đỉnh Hương Lư, bên cạnh vắt ngang một dòng thác, đá chồng lên nhau, lại trồng thành những rặng tùng. Suối trong, thềm ngọc, mây trắng đầy thất. Ở trong lại đặc biệt cất một ngôi Thiền Lâm, cây cối rậm rợp, sương khói bao phủ, rêu mọc trên phiến đá, hễ ai đến đây tham viếng đều cảm thấy thần thanh khí tú. Ngài Tuệ Viễn nghe nói ở Thiên Trúc có tượng Phật, đức Phật này thuở xưa hàng phục độc long, hình ảnh ấy còn lưu truyền lại.

Trong thất đá của một vị tiên phía Nam thành Na-biệt Ha nước Nguyệt Thị thuộc vùng bắc Thiên Trúc, hành đạo trên sa mạc, cách phía Tây một vạn năm ngàn tám trăm năm mươi dặm. Mỗi lúc cảm giao thì trong lòng muốn chiêm bái. Lần nọ có vị Sa-môn Thiên-trúc miêu tả tượng Phật độ rồng độc, ngài Tuệ Viễn bèn ra đằng sau lưng núi kế bên dòng suối chọn một địa điểm để xây am thất. Rồi theo sự diễn tả ấy vẽ ra một bức tượng Phật, nhìn xa xa giống như tượng Phật lúc ẩn lúc hiện trong mây khói.

Ngài bèn trước tác một bài minh: " Vĩ đại thay! Tượng lớn lý huyền mà không tên, thể thần nhơn hoá, để lại bóng mà lìa hình. Ánh sáng vờn trên đỉnh, bóng sáng ngưng tụ không trung. Ở trong tối mà không mờ, ở trong mờ mà càng sáng, uyển chuyển tinh tế, triều tông bách linh, ứng không cùng phương, vết bặt mà sâu mầu, cõi giới mênh mông, chẳng khuyến chẳng khích, theo lời kể mà vẽ thành dung nhan, tưởng tượng lại mà họa thành hình, tưởng vẹn thể nầy, dung nghi ngời sáng, lông trắng phóng hào quang chiếu sáng trong đêm tăm tối, cảm thấu thì liền ứng, khấu thành phát thệ, để lại tiếng tăm trên ngọn núi thiêng, say sưa thưởng thức tham viếng sẽ gặp, công chẳng do xưa, quay lưng quên kính, chẳng suy chẳng xét. Tam quang ( ánh sáng mặt trăng, mặt trời, sao) chiếu soi nhau, vạn lượng một màu, nhà cửa san sát, đường về chẳng ngờ trước. Ngộ thí được tĩnh lặng, duy có cảnh trần tạm nghỉ, chẳng phải bậc thánh siêu phàm suốt thấu thì ai có thể suốt thấu chỗ cùng tột của nó. Cầu mong tiếng tăm ấy được vang vọng mãi, luôn luôn ngóng về Thích đạo mầu, nhỏ nhiệm như đầu sợi lông, vận vi khinh tố, nương vào chút sắc ảo ẩn hiện ở hư không, chĩ in bóng giữa tầng mây, bóng dáng tợ hình tượng. Chân lý ấy thật sâu mầu, vô cùng sảng khoái, ngọn gió lành mở đường, thanh khí vần vũ, hoàng hôn giao tiếp với bình minh phảng phát thần dung mang máng kính gặp. Khắc chữ vẽ tượng đâu mong đâu cầu, cảm nhận nghe thấy, để lại tấm gương cho các ông thực hành theo, ngỏ hầu làm phép tắc trong chốn hồng trần, soi sáng pháp huyền kia, súc sạch nơi ao linh, uống vào thêm tươi nhuận, chiếu soi đều hư rỗng ứng thích với lẽ thực. Trí rộng lớn mới trùm khắp, âm thầm tưởng niệm tiêu tưởng thần du, cái chết đối đầu, trăm mối lo âu.

Lại, thuở xưa ở Tầm Dương, Ðào Khản đến trấn nhậm Quảng Châu, một ngư dân thường thấy trên mặt biển có ánh sáng thần dị phóng quang liên tiếp cả mười ngày. Ông đem chuyện kỳ lạ ấy tâu với Ðào Khản. Ðào Khản nghe vậy, bèn đích thân đến đó xem xét thì đúng là tượng Phật do vua A-dực tạo ra. Ông cho cung thỉnh về chùa Hàn Khê ở Vũ Xương để thờ. Có lần thầy Tăng Trân là trụ trì của chùa này đi qua Hạ Khẩu, ban đêm thầy mơ thấy chùa bị thiêu rụi, mà chỉ có gian thất thờ tượng nhờ long thần vây quanh mà vẫn còn nguyên vẹn. Tỉnh dậy thầy Tăng Trân vội trở về chùa thì thấy xung quanh chùa đều bị cháy rụi mà chỉ còn một gian thất thờ tượng Phật. Ðào Khản sau này đi nhậm chức tỉnh khác, vì biết tượng này linh dị nên cho người đến thỉnh về. Khoảng vài mươi người khiêng đến bờ sông rồi đưa lên thuyền, thuyền bị chao đảo. Sứ giả hoảng sợ đem trả lại chùa, rốt cuộc không đem theo được.

Ðào Khản thuở niên thiếu đã nổi danh là tài ba, nhưng vì thiếu tâm thành tín, cho nên trong kinh sở có lời đồn rằng:” Ðào Khản chỉ dùng uy lực, tượng biểu thị cho thần linh, mây lượn rồi ngưng lại, thăm thẳm xa xôi. Có thể đem hết lòng thành kính, khó thể cậy lực chiêu vời. Cho đến khi ngài Tuệ Viễn dựng chùa xong, ông hết lòng phụng thỉnh thì bổng nhiên bức tượng nhẹ nhàng, quay về không ngăn ngại, điều đó đủ biết oai lực của ngài Tuệ Viễn sâu nhiệm biết dường nào. Thế rồi Ngài dẫn chúng hành đạo sớm hôm không nghĩ. Giáo pháp của Ðức Thích-ca đến thời nay được phục hưng.

Chẳng bao lâu những bậc kỳ đức trì luật tu thiền, những kẻ dứt trần thành tín không hẹn mà đến, mong mỏi tìm về. Những vị như Lưu Di Dân người Bành Thành, Lôi Thứ Tông ở Dự Chương, Châu Tục Chi người Nhạn Môn. Tất Dĩnh Chi ở Tân Thái, Tông Bính, Trương Lai Dân, Trương Tú Thạc, người Nam Dương cùng bỏ phú quý vinh hoa ở đời mà theo Ngài cầu pháp. Ngài Tuệ Viễn bèn ở trước tượng Phật Di-đà trong tịnh xá lập trai đàn phát thệ cùng với những vị này hẹn về Tây phương, rồi bảo Lưu Di Dân sáng tác bài văn: Vào năm ấy chính là ngày 28 Aát Mùi, tháng 7 Mậu dần mùa thu nhiếp đề. Pháp sư Thích Tuệ Viễn tinh thành cảm thấu lẻ huyền mầu, mong mỏi cùng phát nguyện thù thắng, cùng với những bậc chí sĩ đồng lòng tụ tập tinh chuyên. Trong số ấy có hai mươi ba vị, vân tập ở trước tượng Di-đà trong tịnh xá trong đài Bát-nhã dưới Lư Sơn. Tất cả đều dâng hương hoa, cùng với tất cả tấc lòng thành kính mà phát thệ. Suy ra chúng trong hội nầy, tỏ rõ là cùng có nhân duyên với nhau, thì chuyện trong ba đời là rõ ràng vậy. Tính thiện cảm đã phù hợp thì báo thiện ác hẳn là điều tất nhiên. Suy ra sự ngầm gia hộ, ngộ được sự bức thiết của vô thường, thấy được tướng sanh diệt của tam báo, biết được sự khó khăn để vượt qua con đường hiểm. Những kẻ hiền cùng chí nguyện này. Cho nên những vị này đêm ngày tinh cần, ngưỡng vọng sự tế độ. Bởi lẽ thần là do cảm được chứ không phải theo dấu vết tìm cầu, có vật ắt cảm, thì đường tăm tối ngay trước mặt, nếu không chủ để cầu thì mênh mông biết đâu là bến bờ. Nay may mắn không mưu tính mà Tây cảnh đều là tâm khấu thành, thiên thì niềm tin là thiên phát, mà cơ tượng thông với tẩm mộng. Vui mừng bởi cả trăm hiền sĩ tụ hội, thế nên ở trên mây bức tranh lộ rõ. Ảnh đều là thần tạo, công do lý hoà hợp, sự chẳng phải nhơn vật, đây quả thật là do trời tạo một cơ hội, hợp với vận ngầm. Ðâu không thể khắc lòng tinh chuyên thêm suy tư để lắng bớt lo nghĩ của mình. Song cảnh tích ấy sai biệt và công đức cũng không giống nhau, tuy buổi sáng rộng cầu nguyện bảo là giống, song buổi chiều trở về thì là cách biệt. Chính là điều mà pháp hữu thầy thiền của ta lấy làm việc đáng thương. Thế nên thật là chạnh lòng, đợi chỉnh sửa lại vạt áo lên pháp đường. Cùng một lòng thực hành, những nguyện vọng thầm kín đều tốt đẹp. Thệ cùng với những pháp hữu đồng hạnh này vượt lên tuyệt cảnh. Chốn có sự linh xuất tuyệt luân đi đầu trong thần cảnh thì không chỉ có riêng ở Vân Kiệu, chẳng gồm cả U Cốc, trước tiến sau thăng. Sách tấn khích lệ trên đường đạo, lại khéo quán tưởng đại nghi, trình bày rõ ràng. Biết là nhờ sự nhận thức mới, hình là do sự thay đổi. Nương phù dung ở trung lưu, nhờ quỳnh kha để ngăm vịnh, phấp phới áo mây nơi bát cực, bồng bềnh gió thơm đến tận năm. Thể chẳng an mà càng vui nhộn, tâm sảng khoái để thêm đắc ý. Vào tam đồ mà hoằng tạ biệt, ngao du nơi cung trời mà mãi từ biệt. Làm hưng thạnh chúng linh để nối tiếp quy củ, đề ra một hơi thở dài để làm kỳ hạn. Ðấy chính là đạo vậy, há không rộng ư!

Tuệ Viễn có tư chất nghiêm túc, dáng vẻ đạo mạo. Phàm hễ ai trông thấy cũng sanh tâm nể phục. Từng có một vị Sa-môn chọn trúc như ý muốn để biếu Ngài, không dám tỏ bày, xin ở lại một chỗ kín rồi âm thầm ra đi. Có một vị Tăng hiệu là Tuệ Nghĩa, mạnh dạn không ngần ngại, lúc đến núi bèn bảo đệ tử của ngài Tuệ Viễn rằng:

- Các ông tài hèn đức mọn, ta nghe danh đồn chiết phục giỏi. Ta nay đến xem thử thật sự ra sao?. Rồi ông đến núi gặp ngài Tuệ Viễn giảng kinh Pháp Hoa. Mỗi lần muốn cật vấn, thì trong lòng run sợ toát mồ hôi rốt cuộc không dám hé nửa lời. Ông lui ra nói với Tuệ Bảo rằng:

- Sức định của Ngài quả đáng kính sợ, Ngài đây là bậc siêu xuất trong chúng như vậy.

Có lần Ân Trọng Kham đến Kinh châu ghé qua núi viếng thăm Ngài, cả hai cùng đến Bắc giản luận về chuyện “thay đổi thể thì phải chuyển cảnh”. Một lát than rằng: Bậc thức tín thâm minh thật khó đo lường.

Tư Ðồ Vương ích, hộ quân vương Mặc v.v...đều khâm phục oai đức và từ xa viếng thăm Ngài. Vương Ích biên thư nói rằng: Tuổi tác ông mới bốn mươi mà sức khoẻ đã yếu ớt và lãng tai.

Ngài Tuệ Viễn nói: "Người xưa không yêu tiếc tấc ngọc, mà chỉ quý trọng tấc thời gian. Xem ông đang sống đây cũng tợ như không phải lớn tuổi. Ðàn việt đã thực hành đúng lời dạy mà dưỡng tánh cho thoải mái. Nương giáo lý của Phật để ngự tâm. Từ đó suy ra còn ưa thích răng long đầu bạc làm gì. Thiết nghĩ lẽ này, Ngài đã đạt từ lâu rồi. Song vì muốn đáp lại bức thư ông gởi đến thôi.

Lư Tuần vừa xuống thành Giang châu liền vào núi thăm ngài Tuệ Viễn. Thuở nhỏ cha ông ta và Ngài từng là bạn học cũ, nên vừa thấy Tuần Ngài hết sức vui mừng sớm tối thăm hỏi chuyện trò, tăng chúng có vị nhắc Ngài:

- Tuần là tên giặc của nước nhà, Ngài xã giao nồng hậu thế không nghi ngờ gì sao.

Tuệ Viễn đáp:

- Trong Phật pháp ta tình nghĩa vốn không lấy bỏ, há không được kẻ thức giả hiểu biết tỏ tường, điều này không gì đáng lo cả.

Ðến khi Tống Vũ tìm bắt Lô Tuần bèn lập mạng lưới để theo dõi. Tả hữu vua nói:

- Ngài Tuệ Viễn làm chủ ở Lô Sơn mà cùng giao thiệp thân mật với Tuần.

Tống Vũ nói:

- Tuệ Viễn là bậc mô phạm cho nhân thế, nhất định không thị phi bèn sai người mang thư đến viếng thăm, đồng thời cúng dường tiền bạc gạo thóc. Lúc bấy giờ xa gần đều cảm phục cái thấy sáng suốt của Ngài.

Ban đầu kinh điển truyền đến Giang Ðông còn khan hiếm, Thiền pháp chưa thịnh hành, luật tạng suy đồi. Ngài than thở vì đạo pháp ở vùng này còn lu mờ. Ngài bảo hai vị Pháp Tịnh, Pháp Lãnh đi đến xứ Tây Vực tìm những bộ kinh điển. Các vị ấy băng đèo vượt qua sa mạc, núi truyết, qua nhiều năm mới trở về. Ngài đều đem những Phạm bổn có được ra truyền dịch. Trước đây ngài Ðạo An đã có các dịch giải, song chưa hoàn chỉnh. Nay ngài Tuệ Viễn muốn thỉnh ngài Ðàm-ma Nan-đề dịch bộ A-tỳ-đàm Tâm luận. Vì người thời ấy ít người giỏi, ngôn ngữ đời Tấn lại khúc mắc. Sau này có vị Sa-môn tăng-già Ðề-bà người nước Kế Tân, thông suốt các bộ kinh điển, Ngài đến Tầm Dương vào năm thứ 16 niên hiệu Thái nguyên nhà Tấn. Ngài Tuệ Viễn thỉnh Ngài dịch lại bộ A-tỳ-đàm Tâm và Tam pháp độ Luận. Lúc ấy hai học thuyết này mới phát triển, đồng thời Ngài còn viết bài tựa, để chỉ rõ tông chỉ, khiến học giả giảm bớt phiền toái.

Ngài đối việc hoằng pháp luôn canh cánh bên lòng, mỗi khi gặp vị khách Tây Vực bèn khẩn mời lại để tham vấn. Nghe tin Ngài La-thập vào Quan Trung, liền cho người mang thư tham viếng rằn: Thích Tuệ Viễn cúi đầu lễ Ngài, năm ngoái được thư Diêu tả tướng quân, đều nương đức hỏi: Nhơn giả đường xá ngàn dặm cách trở, từ ngoại quốc đến, lúc bấy giờ ngôn ngữ chưa được giao lưu. Nay tin Ngài đến lòng hết sức vui mừng. Nhưng sông ngòi cách trở, chỉ biểu lộ sự kính ngưỡng mà thôi, phải biết trong hội thừa, phủ Thông, trong lòng mong mỏi muốn đến nương ở. Có hỏi thì mới biết xa được, chỉ có tấm lòng hưng phấn tận hưởng mà không thể nói hết. Vọng ngắm con đường phía trước ắt tăng thêm sự vất vả cho Ngài. Song vui mừng vì đại pháp đã được truyền bá khắp nơi. Mặc dù gióng tiếng chuông trong đời mạt pháp, nhưng chỉ thú vẫn mang dấu xưa. Quả thật chưa thể( thức tỉnh) chấn hưng diệu môn, để cảm thấy đến di linh. Ðến mỗi bạn bè thân thiết không ngày nào mong mỏi. Luận về Chiên-đàn dời trồng ở đâu thì các cây khác xung quanh đều thơm lây. Ma-ni toả sáng thì các thứ trân bảo tự tụ lại. Ðây là lẽ hợp với đạo, giống như đi hư mà về thật. Huống chi tông phong hoàn toàn không có hình tướng mà ứng không vì tình. Vì vậy người đảm nhiệm việc hoằng pháp phải lấy sự vô chấp làm tâm, giao thiệp bạn hữu bằng người nhân đức khiến cho công mình không lãng phí. Nếu khiến cho bánh xe pháp không ngừng quay nơi đường bát chánh, pháp âm Tam Bảo không ngừng vang mãi đời Mạt pháp thì lòng đã mãn nguyện, tài hoa không ai bằng. Long Thọ đâu chỉ khéo theo nơi vết trước. Từ nay tỷ lượng y tài, nguyện lên toà cao để trước thuật, đồng thời bình đựng nước trong cửa trời đã đây là pháp vật, tạm dùng nó để bày tỏ tấm lòng.

Ngài La-thật hồi âm. Cưu-ma La-thập đáp lời: " Tôi với Ngài chưa từng gặp mặt hàn huyên, lại văn từ cách biệt, nẻo lòng không thông, cơ duyên đặng ý đã tuyệt dứt, chỉ chuyển lời đến tạm tỏ lòng kính ngưỡng. Bởi chẳng biết phải làm gì mới phải. Một con đường có thể ngăn cả tră. Kinh nói: Ðời sau ở phương Ðông sẽ có một vị Bồ-tát hộ pháp khích lệ nhơn giả khéo hoằng truyền Phật sự của Ngài. Luận về tài có đủ năm món, đó là phước đức, giới hạnh, học rộng, biện tài, trí tuệ, Ngài có đủ cả những tiêu chuẩn đó thì sẽ khiến cho đạo hưng thịnh, chưa đủ thì bị nghi trệ. Nhân giả là người hoàn hảo vẹn đủ cả vậy. Cho nên muốn gởi lòng đến thăm hỏi, nhờ người dịch truyền ý, đâu thể thấy hết được, chỉ tạm đáp lại lòng mong mỏi của Ngài đã chiếu cố. Muốn khi lên pháp tòa để trước tác phải là ý của Như Lai. Nhưng sức người không xứng vật nên lấy làm hổ thẹn. Xưa nay thường dùng chậu rửa bằng đồng, đá song khẩu” có thể dự bị số pháp vật.

Ðồng thời làm một bài kệ rằng:

Ðã xả nhiễm lạc, tâm đặng thiện nhiếp chăng.

Nếu được sự yên định, thâm nhập thật tướng không.

Rốt ráo trong tướng không.

Tâm mình không có gì để thích, nếu vui thiền trí tuệ là pháp tánh vô chiếu, hư cuồng v.v... đều không thật, cũng không chỗ dừng tâm, pháp ấy nhân giả đã đắc. Mong cầu mở bày chỗ cốt yếu.

Ngài Tuệ Viễn viết thư hồi âm rằng: " Hôm nay có khí tốt so ra như thế nào, tháng trước pháp thức đạo nhơn đến. Nghe Ngài muốn về bổn quốc, lòng vô cùng buồn bã. Trước đây hay tin Ngài sẽ soạn thảo ra các kinh, cho nên chưa muốn đến tham vấn. Nếu lời này đúng như tin đồn thì thật đáng tiếc, nay lược hỏi mấy mươi điều. Mong Ngài lúc rỗi rải thì chuyển dịch giùm. Ðiều này tuy chẳng mấy khó khăn gì đối với kinh điển, nhưng muốn lấy quyết định ở nơi Ngài thôi. Và đáp lại một chương kệ:

Ðầu mối rốt cuộc do đâu

Một mảy trần liền động cảnh

Thành ra sức núi lỡ này

Xúc lý tự sanh tuệ.

Nhân duyên tuy vô chủ

Mở lối chẳng một kiếp

Khi không ngộ lý mầu

Ai rõ nắm huyền khế

Chẳng hỏi thứ hoang đường

Cùng nhau hẹn bóng xế

Sau đó có Phất-nhã Ða-la vừa đến Quan Trung đọc bộ Thập tụng bằng tiếng Phạm. Ngài La-Thập theo văn Tấn chia làm ba phần, mới được hai phần thì ngài Ða-la qua đời. Tuệ Viễn thường luôn buồn bã vì bộ sách chưa hoàn chỉnh. Cho đến lúc hay tin Ðàm-ma Lưu-chi vào Tần lại thông thạo bộ này, nên Ngài sai đệ tử là Ðàm Ung đem thư đến khẩn thỉnh mời Ngài vào Quan Trung để dịch tiếp phần còn lại. Cho nên toàn bộ Thập tụng đầy đủ. Ðời nhà Tấn soạn thuật được bộ đó và lưu truyền cho đến ngày nay.

Những người thông suốt nội ngoại điển ở Quan Trung đều đến tụ hội nơi này là do oai lực của ngài Tuệ Viễn. Tăng chúng ngoại quốc đều gọi đất Hán có đạo sĩ đại thừa. Mỗi lần đốt hương lễ bái đều hướng về hướng Ðông đảnh lễ tưởng niệm Lô Sơn, Ngài là dấu tích của thần lý, cho nên chẳng thể lường được. Trước kia ở Trung Quốc chưa có thuyết Niết-bàn thường trụ, chỉ thảo luận về vấn đề thọ mạng dài ngắn mà thôi.

Ngài Tuệ Viễn bèn nói:

- Phật là đấng tối cực, tối cực thì không biến chuyển, lý bất biến đâu có chỗ cùng tận ư.

Nhân đó Ngài trước tác quyển Pháp tánh luận rằng: " Chí cực lấy bất biến làm tánh. Ðạt tánh lấy thể cực làm tông ". Ngài Cưu-ma La-thập khen rằng: " Người nơi biên địa chưa có kinh, lại am hiểu và hợp lý, há không tuyệt diệu ư ".

Vua Diêu Tần khâm phục oai phong tài đức tài trí của Ngài, nên thường viết thư thỉnh vấn, cúng dường liên tiếp. Tặng cho Ngài một tượng thêu lụa tạp sắc ở nước Quy Tư để tỏ lòng kính mến. Còn sai Diêu Sùng tặng cho Ngài một pho tượng bằng ngọc thạch. Khi vừa dịch xong bộ luận Trí Ðộ, vua sai người đem di thư đến thưa: " Bộ luận Trí Ðộ này vừa dịch xong, đây là trước tác của ngài Long Thọ, lại thuộc chỉ thú Phương đẳng. Viết lời tựa để bày tỏ ý tác giả, nhưng các đạo sĩ ở đây đều từ chối không dám hạ bút, Pháp sư nên đề vào đây ít dòng làm lời tựa để người học đời sau không phải nghi ngờ ".

Ngài Tuệ Viễn đáp thư: " Muốn tạo bài tựa Ðại Trí Ðộ để làm sáng tỏ ý tác giả, bần đạo lấy làm áy náy trong lòng. Bởi lớn thì chẳng phải nhỏ có thể dung chứa được, tài hèn đức mọn chẳng thể đo lường được. Vạch ra thấy mặt trời, hổ thẹn vì tuổi đã cao, thân thể ốm yếu nhiều bệnh tật, đụng chuyện thì trở ngại, không như ý mình, mặt trời ấy cũng đã che phủ. Do đó mong Ngài bảo trọng, bèn tạm dứt hoài bảo, còn nghiên cứu cho mỹ mãn thì sẽ trông mong bậc cao đức, tiếng tăm của Ngài vang xa như vậy".

Tuệ Viễn thường nói:

- Văn từ trong Ðại Trí Ðộ Luận dài dòng, kẻ mới học khó nắm bắt được, nên Ngài viết thêm yếu nghĩa, soạn thành hai mươi quyển. Bài văn của sách này ý nghĩa thâm sâu khiến cho học giả bớt phiền toái.

Sau này Hoàn Huyền chinh phạt Ân Trọng Kham. Lúc đại quân đi ngang qua Lô Sơn. Ông muốn mời ngài Tuệ Viễn xuống Hổ khê, Ngài từ chối vì bịnh duyên, Huyền đích thân vào núi. Tả hữu của ông tâu:

- Trước kia Ân Trọng Kham vào núi đảnh lễ ngài Tuệ Viễn. Hy vọng sau khi vào núi Ngài đừng lễ bái Tuệ Viễn.

Huyền đáp:

- Sao lại có lẽ này, Ân Trọng Kham là người đã chết rồi.

Cho đến khi vừa gặp ngài Tuệ Viễn ông vội vàng thi lễ và hỏi Ngài. Thân cha mẹ sanh không dám làm tổn thương, sao Ðại sư cạo bỏ râu tóc. Ngài đáp:

- Nhà Nho lập thân nên phải bảo toàn hình tướng, hành đạo trong nhà Phật chỉ bảo toàn tâm tánh.

Hoàn Huyền nghe vậy không ngớt khen ngợi. Những điều muốn vấn nạn đang ôm ấp trong lòng nhưng không dám nói gì thêm nữa.

Lát sau ông nói về chuyện chinh phạt, ngài Tuệ Viễn không đáp.

Hoàn Huyền lại hỏi Ngài có lời chúc phước nào không?

Ngài nói:

- Cầu mong cho đàn việt và đối thủ của Ngài bình an vô sự.

Hoàn Huyền xuống khỏi núi bảo tả hữu rằng:

- Thật sự trong đời ta chưa từng gặp ai như vậy.

Sau khi củng cố được quyền thế xong, Hoàn Huyền muốn kéo Ngài vào để thêm vây cánh, nên viết thư khuyên Ngài phò chánh mà ra làm quan. Song Ngài viết thư từ chối, quả là không thể kéo Ngài ra được, chí muốn vượt lên Ðan Thạch song cuối cùng chẳng thể được. Chẳng bao lâu, Hoàn Huyền muốn sa thải tăng chúng. Bảo Liêu thuộc rằng:

- Trừ những vị Sa-môn có khả năng hoằng dương Phật pháp, trước thuật kinh điển, giảng giải nghĩa lý hoặc giới hạnh nghiêm mật, tu hành nghiêm túc để tuyên dương đạo hoá. Còn những ai trái phạm điều này thì bắt hoàn tục hết. Chỉ trừ Lô Sơn là nơi cư trú của các bậc tu hành, nên không cần kiểm tra.

Tuệ Viễn viết thư cho Hoàn Huyền :" Phật giáo suy đồi, bị ô uế đã lâu. Mỗi lần nghĩ đến điều này khiến tâm tôi bứt rứt vô cùng. Tôi thường nghĩ chẳng phải là ý trời mà do con người gây nên việc trầm luân. Thiết nghĩ thanh lọc những kẻ ấy thật đúng với bổn tâm. Luận về việc thanh trừ Sa-môn tạp nhạp thì cần phải rõ ràng. Người chánh trực sửa đổi còn kẻ bất nhân tự lánh xa. Nếu được như thế thì mệnh lệnh sa thải tăng chúng bê tha sẽ có hiệu lực. Sau đó mới uốn nắn được kẻ tà nguỵ, khiến họ không có cơ hội làm việc cẩu thả mê muội. Những người chân tu cũng không còn bị thế tục hiềm nghi. Từ đó đạo đời được hưng thịnh, ngôi Tam bảo cũng hưng long. Vì văn bản pháp lệnh chưa hoàn chỉnh nên Hoàn Huyền vui mừng tiếp nhậm ý kiến của Ngài.

Xưa Tấn Thành Ðế lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi, nên Xung Dữu Băng phụ chánh. Ông cho rằng Sa-môn phải lễ kính nhà vua. Mà quan thượng thư Lịnh Hà Sung, quan bộc xạ Trử Dực, v.v... đều tâu là không nên kính lễ.

Lúc ấy, quan ngự sử trong triều đều tán thành ý kiến Lịnh Hà Sung, v.v... Môn hạ thừa lệnh của Băng mà bác bỏ, phải trái lẫn lộn rốt cuộc chưa phân định được. Cho đến khi Hoàn Huyền trấn thủ tại Cô Thục, muốn lệng cho Sa-môn phải kính lễ hoàng đế nên viết thư gởi Ngài:

- Sa-môn không kính lễ hoàng đế thì chẳng hợp với thế tình. Ðối với lý này lẽ nào chưa rõ. việc lớn của một thời đại không thể khiến cho thể ấy thiếu sót. Hậu cận trao cho tám pho sách, nay trao cho Ngài. Ngài có thể thuật rõ lý do không kính vương giả. Hãy trình bày từng việc làm cho rõ ràng, thiết tưởng Ngài sẽ có cách giải thích để trừ mối nghi của tôi .

Tuệ Viễn viết thư trả lời:

- Tại sao xưng là Sa-môn?. Vì Sa-môn khai mở cho người mê mờ con đường giải thoát, phải quên đi nhân ngã thì sẽ cùng người trong thiên hạ đắc giải thoát. Khiến cho bậc cao minh cũng như hàng phàm phu đều hy vọng được hương vị đó. Thoảng hoặc, tuy việc lớn chưa thành tựu song xem dấu vết của họ cũng tuyệt đỉnh, sở ngộ của họ ắt cũng to lớn rồi. Lại nữa y ca-sa vốn chẳng phải pháp phục của triều đình, bình bát cũng chẳng phải vật của cung cấm. Sa-môn là bậc xuất trần nên không thể lễ bái bậc vua chúa. Hoàn Huyền tuy kiên giữ ý kiến của mình, nhưng sau khi xem xong thư của Ngài đành phải nhượng bộ.

Thời gian sau Hoàn Huyền soán ngôi, lập tức hạ lệnh:

- Pháp Phật sâu rộng nhiệm mầu chẳng thể lường được. Suy ra sự tình mà phụng chủ thì phải khởi lòng tôn kính. Nay sự việc ấy đã ở trong ta, để biểu thị sự khiêm nhường cung kính từ nay hàng Sa-môn không cần lễ bái quốc vương nữa.

Ngài bèn viết một quyển luận Sa-môn bất kính vưong giả, gồm có năm thiên.

Thiên thứ nhất nói về tại gia: Ở tại gia người dân phụng hành lễ pháp đó chính là thuận với lễ giáo thế gian. Tình thì chưa có phong cách thế tục giống như cách thức trong nước, cho nên có sự ái kính của thiên thuộc, lễ bái của việc phụng chủ. Lễ kính có cội nguồn nên nhân đó mà thành lễ giáo.

Thứ hai xuất gia: Người xuất gia là người đi ngược dòng đời để theo duổi chí nguyện của mình, biến đổi thói tục để đạt được đạo, thay đổi thế tục thì phải theo kinh điển, không được lễ bái theo sách vở thế tục chỉ dạy. Ngược dòng đời thì phải làm phong cách của mình trở nên cao thượng. Những bậc đạo cao đức trọng thì có khả năng cứu bạt, còn những hạng yếu thì sẽ rơi vào dòng nước xoáy.

Chọn lọc huyền căn ở trong nhiều kiếp. Xa thì thông suốt bến tam thừa, gần thì mở con đường cho thiên nhơn. Nếu muốn làm một người đủ vẹn đức, thì đạo hợp lục thân, thấm nhuần thiên hạ. Tuy không ở trong địa vị vương hầu, nhưng đã khế hợp với hoàng cực trong việc nuôi nấng muôn dân. Cho nên trong thì trái với ân trọng của đạo trời, mà không nghịch với đạo hiếu. Ngoài thì thiếu sự cung kính phụng chúa nhưng không mất lòng tôn kính của mình.

Thứ ba là cầu tông chỉ: Không thuận phong tục cho là phản bổn. Người cầu tông chỉ không để sự sống làm luỵ đến tinh thần. Người thoát vòng tục luỵ tuy không để tình cảm luỵ đến sự sống của mình. Không để tình làm luỵ đến sự sống thì sự sống ấy cũng có thể diệt. Không để sự sống luỵ đến tinh thần thì tinh thần ấy có thể sáng suốt. Tinh thần sáng suốt siêu tuyệt cảnh trần gọi đó là Niết-bàn. Cho nên Sa-môn tuy chẳng lễ song mọi sự việc cao cả đều không mong chức tước vương hầu, mà thấm nhuần ơn Tuệ của nước nhà.

Thứ tư: Lễ cực không bao giờ ứng: Nghĩa là Như Lai cùng với Chu công, Khổng tử, chỗ mở đầu tuy khác song tướng tiềm tàng thì ảnh hưởng lẫn nhau. Chỗ xuất xứ thì khác, chỗ quy về thì giống nhau. Cho nên nói đạo tuy khác mà chỗ quy thú là một vậy. Ðiều không nên đó là: Không thể yêu thương tất cả mọi vật.

Thứ năm là: Thân hình có tàn hoại song thần thức không mất. Nghĩa là thần thức long đong dong ruổi theo Ðông Tây. Ðây là đại ý của luận. Từ đó các vị Sa-môn được tự do du hoá khắp nơi.

Cho đến khi Hoàn Huyền kéo binh về phương Tây. Tấn An Ðế từ Giang Lăng trở về kinh sư, quan phụ trách Hà Vô Kỵ khuyên ngài Tuệ Viễn đến tiếp kiến vua. Song Ngài bảo có bịnh không thể đi được. Vua sai sứ giả đến hỏi, Ngài viết thư đáp: Thích Tuệ Viễn kính lễ. Thời tiết ôn hoà, cầu mong đức vua được thuận nghi. Bần đạo thuở nhỏ mắc bịnh nặng, nay quá niên bịnh càng nguy cấp. Ngưỡng mong từ chiếu rủ lòng xót thương. Cảm được tấm lòng sâu sắc thì thật lấy làm biết ơn. May mắn gặp được khánh hội mà lực bất tòng tâm. Tình này, sự chiếu cố này không biết lấy gì để bày tỏ.

Chiếu đáp: “Dương Trung cảm được sự bệnh hoạn của Ngài chưa khỏi, thâm tình ấy vẫn canh cánh trong lòng". Tháng trước, ở Giang Lăng phát khởi rất nhiều chuyện không tốt trong đạo. Trong lòng luôn day dứt muốn qua đây để cùng gặp nhau. Pháp sư đã an cư nơi núi rừng, bệnh hoạn lại chưa được thuyên giảm. Xa xăm không trở lại được nữa do đó tăng thêm sự tủi hận trong tôi”.

Tạ Linh Vận ở Trần quận cậy tài kiêu ngạo ít ai tôn sùng. Cho đến khi được gặp cung kính bái phục. Ngài Tuệ Viễn trong thông lý Phật, ngoài giỏi thơ văn, phàm những môn đồ theo cầu học vị nào cũng tuân hành. Khi Ngài giảng kinh Tang Phục, Lôi Thứ Tông, Tông Bỉnh, v.v... đều chấp quyển thừa chỉ. Thứ Tông sau đó đặc biệt soạn thuật nghĩa sớ. Ðầu tiên xưng là họ Lôi, Tông Bỉnh nhân đó gởi thư đến nói rằng: trước kia tôi và túc hạ cùng thọ nghĩa này ở chỗ ngài Tuệ Viễn. Nay lại để ở đầu quyển là Lôi thị. Cách giảng dạy ấy bao gồm cả đạo tục, loại này chẳng phải một.

Từ khi ngài Tuệ Viễn dựng chùa dưới chân Lô Sơn cho đến nay hơn ba mươi năm bóng chẳng rời khỏi núi. Vết chẳng vào nhà thế tục. Mỗi khi tiễn khách đi đến Hổ khê thì trở lại. Lúc bấy giờ vào tháng 8 năm thứ 12 Nghĩa Hy đời Tấn, thì bắt đầu trở bệnh, đến ngày thứ sáu thì nguy cấp. Chư trưởng lão đại đức đều cầu thỉnh Ngài uống”cổ tửu” Ngài không chịu. Lại thỉnh Ngài uống nước cháo, Ngài lắc đầu. Lại lấy mật hoà với nước để làm tương thỉnh Ngài uống, Ngài bèn bảo luật sư giở sách ra đọc có được uống không, chưa được nửa quyển thì Ngài thọ  tịch. Thọ tám mươi ba tuổi. Môn đồ buồn bả than khóc như đưa tang cha mẹ. Ðạo tục lần lượt rủ nhau về. Ðối với tình cảm thế gian khó đoạn tuyệt, bèn chế bảy ngày, kéo dài sự thương nhớ. Di chúc dặn rằng hãy phơi xương cốt dưới gốc tùng, chẳng bao lâu thì đệ tử gom lại đem chôn. Thái thú quận Tầm Dương là Ðào Khản, xây một ngôi mộ ở phía Tây ngọn núi ấy. Tạ Linh Vận khắc bia nêu di đức của Ngài. Nam Dương Tông Bỉnh lại dựng bia ở cổng chùa. Tuệ Viễn thuở nhỏ rất giỏi văn chương, lời lẽ tao nhã, khi lên pháp toà luận thuyết những nghĩa lý tinh tuý. Thêm vào đó là Ngài có phong cách đoan chánh, thần thái điềm đạm. Cho nên hoạ tượng trong chùa cho khách gần xa chiêm ngưỡng. Những cống hiến của Ngài đủ cả thể loại nào là trước tác, luận, đề tựa, minh, tán, thi, thơ. Kết tập lại khoảng hơn năm mươi thiên, mười quyển. Lưu truyền ở đời vậy.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.