Tiểu Sử
Hành Trạng
27. Thiền sư Ni Diệu Tổng ở Tư thọ. Ni sư Diệu Tổng - Vô Trước ở Tư thọ tại phủ Bình giang. Vốn là cháu gái của thừa tướng Tô Công Tụng. Năm ba mươi tuổi, Ni sư nhàm chán sự đời nổi trôi, bèn dừng thoát, dứt bỏ duyên tiết phù sức, đến tham học nói chư Ni, đã vào được chánh tín. Nhân đến dự khóa Hạ tại Kính sơn, nghe Thiền sư Ðại Tuệ - Tông Cảo lên giảng đường nêu cử nhân duyên Dược Sơn mới đầu đến dự tham ở Thạch Ðầu, sau đến thấy gặp Mã Tổ, Ni sư bỗng nhiên được tỉnh ngộ. Khi Thiền sư Ðại Tuệ xuống khỏi tòa, Cư sĩ Bất Ðộng - Phùng Công Tiếp theo đến nơi phương trượng thưa: “Tôi hiểu được công án vừa rồi Hòa thượng nêu cử”. Thiền sư Ðại Tuệ hỏi: “Cư sĩ hiểu thế nào?” Phùng Công Tiếp đáp: “Nghĩ gì cũng không được, Tô lô ta bà ha, chẳng nghĩ gì cũng không được, Tô rô tất rị ta bà ha”. Thiền sư Ðại Tuệ bảo nêu cử tợ như Ni sư. Ni sư thưa: “Từng thấy Quách Tượng chú Trang Tử. Hàng Thức giả nói: “Tức là Trang Tử chú Quách Tượng”. Thiền sư Ðại Tuệ nghe lời nói ấy hơi kỳ lạ, lại nêu cử câu thoại Bà Tử của Nham Ðầu, mà hỏi Ni sư bèn dùng kệ tụng đáp rằng: “Một chiếc thuyền con nổi bồng bình, bày náo múa chèo khác cung thương, mây núi trăng biển đều vất bỏ, thừa được trang chu vất mộng thường”. Thiền sư Ðại Tuệ nghĩ đi, Phùng Công Tiếp nghi điều tỏ ngộ ấy không chứng cứ. Sau đó qua Vô Tích mời đến trong thuyền và hỏi: “Bà Tử sinh được bảy người con mà sáu người không gặp tri âm, chỉ có một người cũng không tin tức, bèn vất bỏ trong nước. Lão sư Ðại Tuệ nói là Ðạo nhân giải hiểu được, vậy hiểu như thế nào?” Ni sư đáp: “Từ trước cúng thông đều là đến thật”. Phùng Công Tiếp kinh ngạc. Thiền sư Ðại Tuệ treo bảng, lần lược, Ni sư vào thất. Thiền sư Ðại Tuệ hỏi: “Người xưa chẳng ra phương trượng, vì gì trên trang ăn bánh dầu?” Ni sư đáp: “Hòa thượng tha qua cho Diệu Tổng, Diệu Tổng mới dám nói cái tin tức ấy”. Thiền sư Ðại Tuệ bảo: “Ta tha qua cho ngươi, ngươi thử nói xem?” Ni sư thưa: “Diệu Tổng cũng tha qua cho Hòa thượng”. Thiền sư Ðại Tuệ hỏi: “Lâu sao bánh dầu như thế nào?” Ni sư bèn hét một tiếng rồi đi ra. Từ đó tiếng tăm Ni sư vang khắp bốn phương. Ðến năm Long Hưng thứ nhất (1163) thời Nam Tống. Xá nhân Trương Công Hiếu Tường đến trấn phủ quận ấy, lấy chùa Tư thọ mà thỉnh mời Ni sư đến đó ở và khai đường giảng pháp. Vào viện lên giảng đường, Ni sư bảo: “Một tiếng hét tông thừa, ba tạng giáo điển đều dứt tuyệt thuyên giải. Lệnh Tổ đang ban hành, mười phương ngồi dứt. Hàng Nhị thừa nghe đó mà kinh sợ bỏ chạy. Hàng Thập địa đến đó còn nghi ngờ. Nếu là hàng tuấn kiệt chưa nói mà dễ hiểu, giả sử dùng thủ thay đổi muôn sao, thực hành có quan kéo cờ đoạt trống, còn là nắm tay không, đâu có nghĩa thật. Một đường hướng thượng ngàn Thánh chẳng truyền, người học mệt thân như vượn bắt bóng. Linh sơn phó chúc đuổi theo thời cơ, Diễn Xướng tam thừa mỗi mỗi tùy theo căn khí. Ðầu tiên tại vườn Lộc uyển, Chuyển pháp luân Tứ đệ, độ ngàn muôn người. Ngày nay sơn Tăng cùng cõi nước đây và các phương khác là Phật là Tổ, núi sông Ðại địa cỏ cây lùm rừng, bốn chúng hiện tiền, mỗi mỗi chuyển Ðại pháp luân. Nếu có một cỏ một cây chẳng chuyển pháp luân thì không được gọi là chuyển Ðại pháp luân, do đó nói nơi một hào đoan hiện cõi nước Bảo vương, ngồi trong mảy trần, chuyển Ðại pháp luân. Nhân trong suốt khoảng thời gian ấy làm vô lượng vô biên Phật sự lớn lao khắp cùng pháp giới, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, chẳng động một bước mà đến lầu các của Di-lặc, chẳng tự nghe trở lại mà khắp cùng phổ môn của Quán m. Tình và vô tình tánh tướng bình đẳng. Chẳng phải thầm thông diệu dụng, cũng chẳng phải pháp nhĩ như thị, ở đây thích thản phân minh. n vua ân Phật, đồng một lúc báo đáp đầy đủ. Hãy nói thế nào là một câu Báo ân! Trời cao muôn trượng chánh, Biển rộng trăm sông tràn”. Lại có lúc lên giảng đường, Ni sư nêu cử: “Vân Môn chỉ dạy Ðại chúng: “Từ ngày mười lăm trở về trước tức không hỏi. Từ ngày mười lăm trở về sau, nói đem lại một câu xem?” Xong, Vân Môn tự thay thế bảo: “Mỗi ngày đều là ngày tốt”. Ni sư bảo: “Mỗi ngày đều là ngày tốt. Phật pháp và thế gian pháp đều đầy đủ xong xuôi, chẳng phải đặt đất tìm u huyền. Chỉ quân bình bát hai lần ướt”. Lại có lúc lên giảng đường, Ni sư bảo: “Lão nhân mặt vàng nói ngang nói dọc, nói quyền nói thật, nói pháp nói dụ, dựng pháp tràng, lập tông chỉ, cho người sau làm khuôn pháp, vì gì hãy nói? Mới đầu tại vườn Lộc uyển, sau cùng đến sông Bạt-đề, ở trong hai khoảng thời gian ấy chư từng nói một chữ, kiểm điểm tương lai rất tợ như của đút lót kêu khuất phục. Ngày nay sơn Tăng đối với việc bộn rộn, hãy buông qua một trứ”. Xong, Ni sư bèn xuống khỏi tòa. Có vị Ni hỏi: “Thế nào là đoạt người mà không đoạt cảnh?” Sư đáp: “Hoa đồng nội nở đầy đường, khắp đất là hương thơm trong lành”. Lại hỏi: “Thế nào là đoạt cảnh mà không đoạt người?” Sư đáp: “Vũ trụ mênh mông người vô số, có mấy nam nhi là trượng phu”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh cả hai đều chẳng đoạt?” Sư đáp: “Nơi nơi Dương biếc đều có thể buộc ngựa, nhà nhà đều cửa thấu Trường an”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh cả hai đều đoạt?” Sư đáp: “Tuyết phủ hoa lau, thuyền giăng chật bến”. Lại hỏi: “Người và cảnh được sư chỉ bày, còn hướng thượng tông thừa việc ấy như thế nào?” Ni sư bèn đánh.
