0-TS Tương Sơn Lương Sách

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Tương Sơn Lương Sách -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Pháp Vân Pháp Tú
Đồng Môn ♂️ 0-TS Phật Quốc Duy Bạch, ♂️ 0-TS Đâu Suất Cảnh Thường, ♂️ 0-TS Phước Tuệ Pháp Khâm, ♂️ 0-TS Thần Quang Ðạo Phương, ♂️ 0-TS Nguyên Phong Tông Ðăng, ♂️ 0-TS Khai Hòa Pháp Ngung, ♂️ 0-TS Linh Thứu Tuệ Minh, ♂️ 0-TS Phổ Chiếu Hữu Bằng, ♂️ 0-TS Tiến Phước Vĩnh Kiên, ♂️ 0-TS La Phù Tề, ♂️ 0-TS Thiên Phong Phật Ấn, ♂️ 0-TS Hộ Quốc Thuần, ♂️ 0-TS Hưng Giáo Tế, ♂️ 0-TS Thiên Vương Nghĩa An, ♂️ 0-TS Bảo Trì Tuệ Nguyệt, ♂️ 0-TS Giác Lâm Toại, ♂️ 0-TS Vĩnh Khánh Duy Giản, ♂️ 0-TS Vân Phong Hựu Nguyệt, ♂️ 0-TS An Phong Pháp Tín, ♂️ 0-TS Ba Tiêu Tông Lượng, ♂️ 0-TS Đại Biệt Ðạo Thường, ♂️ 0-TS Tam Giác Thanh Thiền, ♂️ 0-TS Sùng Đức Tiên, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Ðương, ♂️ 0-TS Thạch Sương Cư Hối, ♂️ 0-Cư Sĩ Dĩnh Thúc Tương Chi Kỳ, ♂️ 0-TS Đại Ngu Như Chiếu, ♂️ 0-TS Đức Sơn Diệu Trạm, ♂️ 0-TS Thiên Hy Vĩnh Tuệ Nghiêm, ♂️ 0-TS Thê Hiền Trí Nhu, ♂️ 0-TS Bắc Thiên Vương Ích, ♂️ 0-TS Trừng Tuệ Nghĩa Ðoan, ♂️ 0-TS Chánh Giác Ðạo, ♂️ 0-TS An Phước Sư Tử Thắng, ♂️ 0-TS Thừa Thiên Nguyệt, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Tịnh Chân, ♂️ 0-TS Quảng Tuệ Xung Vân, ♂️ 0-TS Cam Lộ Ðức Ngung, ♂️ 0-TS Khai Tiên Trí Tuân, ♂️ 0-TS Càn Minh Quảng, ♂️ 0-TS Chân Không Tùng Nhất, ♂️ 0-TS Thời Ung Thanh Thiền, ♂️ 0-TS Thụy Tướng Tử Lai, ♂️ 0-TS An Quốc Tự Phương, ♂️ 0-TS Hoắc Khâu Quy Tài, ♂️ 0-TS Đức Sơn Nhân Hội, ♂️ 0-TS Phước Nghiêm Thủ Sơ, ♂️ 0-TS Khâm Sơn Kế Minh, ♂️ 0-TS Cát Tường Nột, ♂️ 0-TS Tịnh Danh Pháp Nhân, ♂️ 0-TS Từ Tế Thông, ♂️ 0-TS Quảng Giáo Thủ Nột, ♂️ 0-TS Tiên Nham Cảnh Thuần, ♂️ 0-TS Bảo Ninh Tử Anh, ♂️ 0-TS Minh Thủy Pháp Tốn, ♂️ 0-TS Hương Tích Dụng Bân, ♂️ 0-TS Bạch Triệu Khuê, ♂️ 0-TS Quang Tuệ Bảo Lâm

Hành Trạng

19. Thiền sư Lương Sách ở Tương sơn. Thiền sư Lương Sách - Tuệ Cự ở Tương sơn tại phủ Giang ninh, vốn người xứ Phước châu. Nhân khảo xét kinh pháp mà được độ xuất gia, Sư tham phương phỏng Ðạo, dự tham Thiền sư Tư ở Lục hợp hơi có chút phát minh, đến dưới pháp tịch của Thiền sư Viên Thông chóng được giải thích nghi trệ. Ra hoằng dương giáo hóa, Sư ở tại Hoa tạng rồi chuyển dời đến Chung sơn. Có vị Tăng hỏi: “Chư Phật xuất hiện nơi đời khắp về quần sinh, còn Hòa thượng xuất hiện nơi đời lại như thế nào?” Sư đáp: “Cây gậy chưa từng nắm đến”. Lại hỏi: “ Cho gì thì trời người đều được lợi?” Sư đáp: Khéo lẽnh hội câu thoại trước”. Lại nói: “Kính vâng”. Sư bảo: “Cái ấy nạp Tăng còn rõ rệt chút nào”. Và Sư bảo rằng: “Gió thu yên lặng, cảnh thu tiêu điều, nhạn bay qua trời, yến lìa Ðại hạ. Thiền khách du phương chọn nơi an cư, eo Ðông đãy nhẹ, tay cầm gậy ngắn, bên sông mé tùng, đi ở không bó buộc. Tuy là như vậy, bỗng nhiên có người hỏi làm sao sống là việc hành khất cuối cùng? Người sáng mắt trước đối đáp như thế nào? Nếu là người có sở đắc thì muôn một không nghi, hàng hậu học sơ tâm còn phải tử tế. Có hiểu chăng? Muốn biết đường trên sông, phải hỏi người từng qua”. Sư lại bảo: “Tuyết sắp tàn phần ngoài lạnh, đến lửa dễ dàng, qua đường khó khăn, khéo là đắp y yên ngủ mặc tình ngày khác lên lan can, Tổ sư chẳng cần chặt cánh tay, học trò tôi chẳng làm nhàn rỗi, dầm dề thời gian, việc người lắm mối. Bên ấy nước biếc, bên nào trời xanh, khó khó trăm năm vạn sáu ngàn ngày nhìn nhìn bèn thấy lông sâu bồm xồm. Sơn Tăng cùng gì nói năng kéo bùn mang nước? Tuy là như vậy, nhưng nuôicon mới biết công khó của phụ tử”.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.