0-TS Thiên Đồng Phổ Giao

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Thiên Đồng Phổ Giao -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Lặc Đàm Ứng Càn
Đồng Môn ♂️ 0-TS Tư Phước Tỉnh Ngộ, ♂️ 0-TS Mộc Bình Giác Trừng, ♂️ 0-TS Thạch Sương Sở Thiền, ♂️ 0-TS Vân Cư Như Sơn, ♂️ 0-TS Nam Cương Chiếu, ♂️ 0-TS Khai Phước Ðức Quân, ♂️ 0-TS Tiến Phước Chân, ♂️ 0-TS Cảnh Đức Lương Ngọc, ♂️ 0-TS Tư Phước Úc, ♂️ 0-TS Tuyết Phong Hữu Nhu, ♂️ 0-TS Đạo Ngô Sở Phương, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Khả Ðô, ♂️ 0-Am Chủ Nhị Linh Tri Hòa, ♂️ 0-TS Đông Thiền Tùng Mật, ♂️ 0-TS Long Nha Tông Mật, ♂️ 0-TS Thắng Nhân Hàm Tỉnh, ♂️ 0-TS Viên Thông Ðạo Mân
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Bồng Lai Viên
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Bồng Lai Viên
#3Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Bồng Lai Viên
#4Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Bồng Lai Viên

Hành Trạng

3. Thiền sư Phổ Giao ở Thiên đồng. Thiền sư Phổ Giao ở Thiên đồng tại phủ Khánh nguyên, vốn người dòng họ Tất ở vạn lĩnh - quận Chi. Thủa bé thơ, Sư rất thông minh dĩnh ngộ, chưa đến tuổi hai mươi, Sư được độ xuất gia. Sư đến Nam bình nghe học Thai giáo, nhân vì Ðàn việt phụng tu sám pháp. Có người hỏi: “Việc sám hối của Sư lạ tự sám hay tha (kẻ khác) sám? Nếu là tự sám thị tội tánh từ đâu lại. Còn nếu sám tội cho người khác thì tội nơi người khác chẳng phải ở nơi Sư, sao có thể sám trừ đó?” Sư không thể trả lời điều ấy, bèn cải trang sắc phục, du phương, đến Lặc đàm, chân vừa đạp tới cửa, Thiền sư Càn liền quát hét. Sư phỏng muốn hỏi. Thiền sư Càn bèn kéo gậy xua đuổi Sư. Một ngày nọ, bỗng nhiên Thiền sư Càn gọi Sư đến phương trượng và bảo: “Ta có một công án của người xưa nay muốn cho ông thương lượng”. Sư định tiến tới mở lời. Thiền sư Càn bèn quát hét, chợt nhiên, Sư lãnh ngộ mới cười lớn. Thiền sư Càn bước xuống thẳng sàn, nắm tay Sư và bảo: “Ông hiểu Phật pháp chăng?” Sư bèn hét, lại nâng mở, Thiền sư Càn cười lớn. Từ đó tiếng tăm Sư vang vọng khắp bốn phương các hàng học giả đều cung kính quy ngưỡng. Về sau, trở về quê hương, Sư dừng ở tại Thiên đồng, đóng cửa quét tước suốt tám năm. Tại chùa chợt trống giảng tịch, các quan liêu tại quận thỉnh mời Sư khai đường giảng pháp. Vì sợ Sư lánh trốn nên đã dự phòng canh gác các lối đường đi, do đó, Sư không thể chối từ. Ngày nhận sự thỉnh mời lên giảng đường, Sư bảo: “Ôi! Lão mặt vàng, đem Phật pháp giao phó cho các Vương thần, khách vô tình dưới rừng Quan sai bức giết người, chớ có ai biết tâm đến cùng vì ta thoát khỏi được chăng? Nếu không, chẳng khỏi đem sai lầm đến sai lầm”. Xong, Sư bèn xuống khỏi tòa. Phàm thấy có vị Tăng nào đến, Sư đều quát mắng rằng: “Lúc Lan Lật chưa mang vác đã vì ông nói rồi vậy. Hãy nói. Nói cái gì? Vẫy tay rửa bát, nắm quạt trương cung, hạt cây bách của Triệu Châu, Linh Vân thấy hoa đào, tạm ném bỏ một bên, sơn Tăng không nghĩ gì nơi môi mép, cho các người đánh dây leo, sao chẳng thôi nghĩ đi?” xong, Sư nắm cây gậy mà xua đuổi đó. Ðến ngày 20 tháng 03 năm Tuyên Hòa thứ sáu (1124) thời Bắc Tống, sau khi tắm rửa xong, lên giảng đường, Sư nói bài kệ tụng rồi bỗng nhiên thị tịch, hưởng thọ bảy mươi bảy tuổi, năm mươi tám hạ lạp. Bài kệ tụng đó là: “Gậy báu đánh không trung chạm đâu thảy đều xuân, tin tức trong đó càng khắp cùng. Ðêm qua gió động rét hang lạnh, trâu đất sợ dậy cây bạch vân”.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.