0-TS Thanh Lương Ðức Hồng

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Thanh Lương Ðức Hồng -
Sanh#1Năm Sanh1071
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Lặc Đàm Khắc Văn
Đồng Môn ♂️ 0-TS An Thạch Vương Kinh Công, ♂️ 0-TS Bảo Phong Sở Nguyên, ♂️ 0-TS Thang Tuyền Thiền, ♂️ 0-TS Từ Vân Ðôn Nhã, ♂️ 0-TS Bắc Thiền Tuệ Chiêu, ♂️ 0-TS Cốc Sơn Hy, ♂️ 0-TS Thạch Sương Thiệu Kha, ♂️ 0-TS Ung Hy Ðạo Quang, ♂️ 0-TS Nam Đài Hồng, ♂️ 0-TS Tào Sơn Tuệ Ngôn, ♂️ 0-TS Bắc Thiền Duy Hiếu, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Tuệ Mãn, ♂️ 0-TS Tượng Nhĩ Duy Cổ, ♂️ 0-TS Gia Hựu Vân, ♂️ 0-TS Gia Hựu Ðạo Dụng, ♂️ 0-TS Hoa Dược Anh, ♂️ 0-TS Lặc Đàm Phước Thâm, ♂️ 0-TS Tuệ An Tuệ Uyên, ♂️ 0-TS Song Khê Ấn, ♂️ 0-TS Siêu Hóa Tỉnh, ♂️ 0-Am Chủ Thạch Đầu Hoài Chí, ♂️ 0-TS Hoàng Bá Ðạo Toàn, ♂️ 0-TS Quy Sơn Duẫn Bình, ♂️ 0-TS Bảo Hoa Phổ Giám, ♂️ 0-TS Thái Bình An, ♂️ 0-TS Cửu Phong Hy Quảng, ♂️ 0-TS Thượng Phong Tuệ Hòa, ♂️ 0-TS Báo Từ Tấn Anh, ♂️ 0-TS Ngũ Phong Bản, ♂️ 0-TS Đông Sơn Phạm Ngôn, ♂️ 0-TS Pháp Vân Cảo, ♂️ 0-TS Văn Thù Tuyên Năng, ♂️ 0-TS Tuệ Nhật Văn Nhã, ♂️ 0-TS Thọ Ninh Thiện Tư, ♂️ 0-TS Đông Sơn Chí Càn, ♂️ 0-TS Đâu Suất Tùng Duyệt, ♂️ 0-TS Lặc Đàm Văn Chuẩn
Tịch#1Viên Tịch1128

Hành Trạng

16. Thiền sư Ðức Hồng ở Thanh Lương. Thiền sư Ðức Hồng tự là Giác Phạm ở lương tại Quân châu, vốn người dòng họ Dụ ở Tân xương, quận Chi. Năm mười bốn tuổi, song thân Sư đồng qua đời trong vòng một tháng, Sư bèn đến nương tựa Thiền sư Tịnh ở Tam phong làm Ðồng tử. Năm mười chín tuổi, Sư đến xét khảo kinh pháp tại kinh đô, mượn tên Tuệ Hồng trong sổ bộ cũ ở chùa Thiên vương, nương Luật sư Tuyên Bí mà thọ giới Cụ túc; làm đại Tăng. Sư thọ học luận Duy thức, thấu đạt uyên áo, rộng đọc xem cùng Tử sử rất có tài khác lạ, làm thơ gọi là kinh Hoa Tấn Thân một thời gian, qua sau, Sư mới theo hướng Nam, trở về nương tựa Thiền sư Chân Tịnh ở Quy tông mà nghiên cứu tâm pháp, nương theo chuyển dời đến Lặc đàm, qua bảy năm, Sư chứng đắc đạo yếu Chân Tịnh. Sư giã từ đó, vân du giẫm trải về hướng Ðông đến Nguyên tương. Một ngày nọ đọc xem Ngữ lục của Phần dương, lại có phát thuốc, từ đó đầu óc tẩy sách biện bác vô ngại. Trong khoảng niên hiệu Sùng Ninh (1102-1107) thời Bắc Tống, Hiển - Mô Chu Thế Anh thỉnh mời Sư ra hoằng hóa đến ở Bắc thiền tại Lâm xuyên. Nguyên chùa ấy xưa trước có họa vẽ tôn tượng mười sáu vị A-la-hán, qua thời gian lâu, bị lạc mất một tượng, Sư đến đó dùng thơ mà giễu cợt, bảo là: “Chưa đến lúc ngầm mà Ứng Chân (A-la-hán) hiện mộng ẩn lánh đến nhà. Sau khi khất thực về lại trong chùa bèn có được tôn tượng bị mất ấy, vì thế người đời cho là “Tôn giả còn sợ Sư giễu cợt mà trở về”. Qua năm sau, Sư lấy cớ có việc mà lui ở Kim lăng. Tào sư Ngô Chánh Trọng, lại thỉnh mời Sư đến lương, chưa đầy một tháng, có vị cuồng Tăng vu cáo độ điệp của Sư là giả danh mạo phạm, nên Sư liên lụy trách phạt vào trong ngục cấm rèn luyện thời gian lâu bởi tội mạo danh. Sư mặc áo vá nách chạy đến kinh đô gặp Thừa tướng, Cư sĩ Trương Vô Tận đặc ân tấu trình, Sư được độ cải đổi tên như hiện nay. Thái úy Quách Thiên Dân tấu trình ban cho châm phục, hiệu là “Bảo Giác Viên Minh”, Sư tự xưng là “Tịch m Tôn giả”. Sau đó không bao lâu lại gặp phải Trương Khuých Hậu thiện bày bải chính sự đương thời. Tả ty Trần Sánh Trung soạn thuật Tôn Nghiêu Lục dâng tấu trình. Người nắm quyền chánh ganh ghét đó cho rằng Sư rất giúp sức vào việc sửa chữa văn tự ấy, nên trong tháng mười năm Chánh Hòa thứ nhất (1111) thời Bắc Tống, Sư bị lột tước pháp y Tăng-già-lê và đày đuổi ra khỏi đất nước, mãi đến mùa xuân năm Chính Hòa thứ ba (1113) thời Bắc Tống, Sư mới được ân xá, trở về lại ở Giang tây. Mùa đông năm đó, Sư lại bị bắt giam vào tù ngục tại Tinh châu. Năm sau (1114), Sư lại được trở về, qua lại nơi Cửu phong, Ðộng Sơn vận mặc như người nhà quê tiêu tán, sư chỉ lấy văn chương tự làm vui, đem từ Tây an vào Hành nhạc, nương pháp thuộc hướng đến tuổi già. Lại bị các Ðạo sĩ điên cuồng cho là Sư cùng bạn đảng với Trương Hòa Tố, nên bị bắt giam vào ngục tại Nam xương trải qua hơn trăm ngàn trị tội phải quấy. Sau khi được tha khỏi, Sư trở về lại ở Nam đài tại phía Tây sông Tương. Nhưng nơi ở trị tội, Sư đề bảng là “Minh Bạch Am” và tự làm bài minh khắc v.v... Từ đó, Sư mở rộng tư duy kinh luận, trước thuật nghĩa sớ, phát huy Bí áo của Thánh hiền, và giải nghĩa Chu Dịch. Sư trước thuật “Tăng Bảo Truyện” hoàn tất, mang đưa vào kinh đô. Vừa đến Tương dương, lại gặp Uyên Thánh lên ngôi, rất theo việc dùng của Tuyên Hòa (Huy Tông Triệu Cát), ban chiếu sắc tặng Thừa tướng Thương Anh Tư Ðồ, sắc ban Sư xuống tóc trở lại và dấy lại tên Sư xưa cũ. Sau đó không bao lâu, nước nhà phải giẫm trải khó khăn, nên sư lùi ở tại Lô phụ. Ðến tháng năm năm Kiến Viêm thứ hai (1128) thời Nam Tống, Sư thị tịch tại Ðồng an, hưởng thọ năm mươi tám tuổi, môn nhân tạo dựng tháp phụng thờ tại núi Phụng thê. Sư có tài văn chương vốn thiên bẩm. Từ bé thơ đọc xem sách vở qua mắt một lần thì trọn đời không quên, đặt bút thì viết cả muôn từ trọn không dừng suy nghĩ, Sư đặt để đầu bút dùng ý rất quy mô. Ðến nỗi Tô Ðông Pha mà tiếc nhuận Sơn Cốc, đến như vào ra Thiền giáo, luận nghị tinh rành thông bác, tài năng đó thật cao. Thiền sư Viên Ngộ lấy làm đầu bút đủ đại biện tài chẳng thể kịp vậy, cùng các bậc sĩ Ðại phu rảo bước luận nghị lũ lược, tuy điều người ngồi rộng tòa, mà đến ắc đoạt hẳn chỗ ngồi vậy. Mới đầu Sư ở tại Tương tây thấy gặp Sơn Cốc cùng nhau trò chuyện trọn ngày chẳng để cho đi. Nhân đó mà có thơ tặng Sư, đại lược là: “Chẳng chịu cúi đầu nhặt khanh tướng, lại hay rơi bút nhả khói mây”. Về sau, Sơn Cốc đến Nghi xuân, thấy thơ Trúc Tôn giả của Sư mà dò hỏi tưởng thưởng, cho là khéo vào thành vức tác gia, rất hận Tô Ðông Pha chẳng kịp thấy đó. Sư trước thuật: - “Lâm Gian lục” hai quyển, - “Tăng Bảo truyện” ba mươi quyển, - “Cao Tăng truyện” mười hai quyển, - “Trí Chứng truyện” mười quyển, - “Chí Lâm” mười quyển, - “Lãnh Trai Dạ Thoại” mười quyển, - “Thiên Trù Cấm Luyến” một quyển, - “Thạch Môn Văn Tự Thiền” ba mươi quyển, - “Ngữ Lục kệ tụng” một thiên, - “Pháp Hoa hợp luận” bảy quyển, - “Lăng Nghiêm Tôn Ðảnh Nghĩa” mười quyển, - “Viên Giác Giai Chứng Nghĩa” hai quyển, - “Kim Cang Pháp Nguyên luận” một quyển, - “Khởi Tín Luận Giải nghĩa” hai quyển, đều lưu hành truyền bá nơi đời, Thừa tướng Trương Vô Tận tôn xưng Sư hiệu là “Giác Phạm”, bởi vì Sư là bậc anh vật trong thiên hạ, dị nhân trong Thánh tống. Nhưng các bậc Cao Tăng thời xưa do tài học mà vang danh nơi đời, nhưng đến thời Sư (Giác Phạm) đều xua bỏ lắm nhiều, hẳn vì nêu trong sạch, khuôn phép tốt ành cùng giúp mà về sau ngợi ca vậy. Từ thuở thiếu thời đã quy hướng dòng họ Thích, đến lúc trưởng thành lại rộng thông mọi sử sách, xét xem sự phát huy của Sư trong kinh luận, thật sáng giá Tùng lâm, luôn đau đáu vậy, tay chẳng dừng viết mà lời tuông đầy tràn thiên hạ, kịp đến lúc mắc cạn, thân mặc áo vá chằm, vượt ra cả chín phần chết chỉ một phần sống, lại phải trải qua hai mươi năm sau mới xuống tóc lại, nhưng Sư không một ngôn từ phản Phật, cải đổi mưu ý. Ðó thật là bậc Hiền giả vậy! Nhưng vì Sư quá quở trách người xưa mà lại vụng sử dụng nơi chính mình, không thể toàn thân xa rời tai hại, giới tiết trong sáng mà lấy làm tự cao, vài lần bị tội vùi lấp nhưng kỳ thật là vô tội. Ước đó thấy rõ Sư cậy tài bạo phát thái quá mà tự chuốc lấy đó vậy. Ðáng tự có nghĩa là Thức chẳng biết mảy may nhỏ nhiệm, đạo chẳng hơn hành tập vậy, chẳng riêng làm thực lục nói Sư, mà cũng có thể thấy được Sư chẳng tự khinh vậy. Thật đáng tiếc thay! .

This entry was posted in . Bookmark the permalink.