Tiểu Sử
Hành Trạng
5. Thiền sư Diệu Phổ ở Tánh không. Thiền sư Diệu Phổ ở Tánh không - Hoa đình tại phủ Gia hưng, vốn người Hán châu. Sư đến nương tựa Thiền sư Tử Tâm mà chứng đạt, mới đến tú thủy tìm thuyền con vân du, kết lập am tranh ở đồng trống tại long, thổi ống sáo sắt để tự nhàn vui, Sư trước thuật lắm nhiều Phú vịnh. Những người có được đó thảy tôn quý cất giữ. Trong tập “Sơn cư” Sư có viết: “Tâm pháp đều quên còn cách vọng. Sắc trần chẳng hai vẫn thừa trần, chim đá chẳng đến xuân lại qua, chẳng biết ai là người ở am”. Sư lại thường răn dạy đại chúng rằng: “Học đạo giống như giữ cấm thành, ngày phòng sáu giặc đêm tỉnh rõ. Chủ tướng trong quân hay hành lệnh, chẳng động đao binh trị thái bình”. Sư lại bảo: “Chẳng cày mà ăn chẳng dệt mà mặc, ngoài vật nhàn lúc đến Thánh, chưa đến chốt cửa của Tổ sư cũng chẳng giữ ý mặc tiện nghi”. Sư lại bảo: “Trong mười hai thời khắc chẳng khéo dừng, cùng lại cùng đi đến chẳng cùng, ngay phải suốt thấu đáy không cùng, đạp ngủ Tu-di ngọn thứ nhất”. Ðầu niên hiệu Kiến Viêm (1127) thời Nam Tống, Từ Minh phản nghịch trên đường đến Ô Trấn, chém giết nghênh ngang, dân chúng phần nhiều đều lánh chết, một mình Sư mang sách đi ngang qua đó, giặc thấy tướng dáng Sư to lớn kỳ lạ, nghi hẳn là dối phục, mới hỏi Sư từ đâu lại. Sư đáp: “Tôi là Thiền giả muốn đến chùa Mật ấn”. Giặc tức giận muốn chém. Sư bảo: “Ðại trượng phu cần chiếc đầu tôi thì cứ nhặt lấy, cớ sao tức giận làm gì. Tôi chết hẳn được vậy, nhưng xin được một bữa cơm để lấy làm đưa tiễn chung cùng”. Giặc đưa cơm thịt đến cho Sư, Sư vẫn như thường lệ thọ trai, xuất sinh xong, Sư mới bảo: “Ai sẽ vì tôi làm văn cúng tế?” Giặc chỉ cười không đối đáp. Sư mới đòi lấy bút lớn viết rằng: “Than ôi Duy linh! Nhọc ta vì sống quá khối lớn, sai ta vì thọ thì mất âm dương, thiếu ta vì nghèo thì ngũ hành chẳng chánh, khổ ta vì mạng thì ngày giờ chẳng tốt. Than ôi! Lớn thay! Nhờ có đạo xuất trần, tỏ ngộ tánh của ta cùng diệu tâm đó, thì diệu tâm đó ai cùng vì gần? Trên đồng với chân hóa của chư Phật, dưới hợp với vô minh của phàm phu, mảy trần chẳng động, vốn tự viên thành. Diệu vậy thay! Diệu vậy thay! Nhật nguyệt chưa đủ để lấy làm sáng, đất trời chưa đủ lấy làm lớn, lỗi lỗi lạc lạc, không quái không ngại, hơn sáu mươi năm hòa quang lẫn tục, bốn mươi hai hạ lạp tiêu dao tự tại, gặp người thì mừng thấy Phật chẳng lạy. Cười vậy ư? Cười vậy ư? Ðáng tiếc chàng trai thiếu niên, phong lưu rất quang thái, thản nhiên về đi mặc gió xuân, thể tợ hư không trọn chẳng hoại. Thượng thực!” Xong, Sư bèn nắm đũa mà ăn. Ăn xong Sư lại bảo: “Kiếp số đã gặp ly loạn, ta là kẻ thích sống rất lắm, nhưng đến nay khéo nương theo thời, tiện xin một lát dao hai !” Sư mới lớn tiếng bảo: “Chém, chém”. Giặc mới kinh sợ rất lắm cúi đầu sám tạ lỗi quá, bảo người gìn giữ đưa Sư đi ra, am nhà ở trấn khỏi bị đốt hại. Thật là do ân huệ của Sư vậy. Các hàng đạo tục nghe thế càng thêm kính trọng. Có vị Tăng thấy Sư thấy Phật mà không kính lễ, mới ca hỏi nghịch rằng: “Ðã thấy Phật, vì sao không lễ bái?” Sư bèn chấp tay mà hỏi đó rằng: “Hiểu chăng?” Vị Tăng ấy đáp: “Không hiểu”. Sư lại chấp tay bảo: “Nhà không hai chủ”. Ðến mùa đông năm Canh Thân (1140) thuộc trong niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1163) thời Nam Tống. Sư làm một cái bồn lớn bít lỗ đáy, viết thư gởi Thiền sư Trì ở Tuyết đậu rằng: “Tôi sắp thủy tán vậy”. Ðến năm Nhân Tuất (1142), Thiền sư Trì đến nơi, thấy Sư vẫn hiện còn, mới làm bài kệ giễu cợt Sư rằng: “Ôi thay, Lão tánh không, cần muốn tặng cá rùa. Ði chẳng dẫn tánh đi, chỉ quản nói cùng người”. Sư đọc xem kệ rồi, cười bảo: “Vì đợi huynh lại chứng minh vậy”. Mới bảo báo khắp bốn chúng. Ðại chúng đã nhóm tập, Sư vì giảng pháp yếu, xong nói kệ rằng: “Ngồi đứng xả thân chẳng như thủy táng, một biết củi cháy, hai biết mở trống. Buông tay bèn đi chẳng ngại khoái sướng, ai là tri âm Hòa thượng thuyền con? Cao phong khó tiếp muôn ngàn năm, một khúc ngư ca ít người xướng”. Xong Sư bèn ngồi tròn trong bồn thuận theo nước dâng mà xuống, đại chúng đều đi theo đến bờ biển, trông nhìn Sư muốn dứt mắt. Sư lấy gàu bít nước mà xoay, mọi người bưng bít trông xem nước không chỗ vào, Sư lại cưỡi theo dòng mà đi, và xướng rằng: “Ðang nằm thuyền con về quê cũ, chẳng nơi dấu vết khéo khó lường, chân phong khắp gởi người tri âm, sáo sắt thổi ngang làm tán trường”. Tiếng sáo Sư thổi lên nghe nghẹn cả cổ, giữa biển cả mênh mông thấy Sư ném ông sáo lên giữa khoảng không, rồi mới ẩn chìm, mọi người khóc gào kính mộ. Ðồ họa tôn tượng Sư mà phụng thờ. Sau ba ngày đến trên bãi cát, thấy nhục thân Sư ngồi kiết già như lúc đang sống, các hàng đạo tục tranh nhau đến nghinh thỉnh về, lưu lại năm ngày, trà tỳ có được xá-lợi lớn như hạt đậu nhiều vô số kể, có hai con nhạn bồi hồi bay giữa khoảng không, đến lúc lửa tắt hết mới bay đi. Mọi người bèn nghinh đưa xá-lợi di cốt sư về long dựng tháp cúng dường.
