Tiểu Sử
Hành Trạng
ĐẠI SƯ THUẬN ĐỨC ĐẠO PHÓ
chùa LONG SÁCH HÀNG CHÂU
PHÁP TỰ ĐỜI THỨ SÁU của THANH NGUYÊN HÀNH TƯ
PHÁP TỰ của TUYẾT PHONG NGHĨA TỒN
Sư họ Trần, người Vĩnh Gia. Ngay từ lúc còn bé thơ, sư đã không ăn món tanh mặn. Cha mẹ ép sư ăn cá khô liền nôn oẹ ra hết, nhân đó cầu xuất gia, thọ giới cụ túc tại chùa Khai Nguyên bổn châu. Sư du phương đến Mân Xuyên yết kiến Tuyết Phong. Tuyết Phong hỏi:
- Ông người xứ nào?
Đáp:
- Người Ôn Châu.
Tuyết Phong nói:
- Nếu thế thì cùng ông Nhất Túc Giác (Huyền Giác) đồng hương, sư nói:
- Chỉ như ông Nhất Túc Giác là người xứ nào vậy?
Tuyết Phong nói:
- Đáng ăn một gậy, nhưng thôi tha cho.
Một hôm, sư hỏi Tuyết Phong:
- Như các bậc cổ đức, há chẳng lấy tâm truyền tâm?
Tuyết Phong nói:
- Kể cả chẳng lập chữ nghĩa câu cú.
Sư nói:
- Nếu chẳng lập chữ nghĩa câu cú thì sư truyền thế nào được?
Tuyết Phong lặng thinh hồi lâu, sư lễ tạ. Tuyết Phong nói:
- Hỏi ta một chuyển ngữ há chẳng tốt sao?
Sư nói:
- Hỏi Hòa thượng một chuyển ngữ.
Tuyết Phong nói:
- Nếu thế thì chẳng có thương lượng.
Sư nói:
- Hòa thượng thế nào thì được?
Tuyết Phong nói:
- Ông thì thế nào?
Sư nói:
- Cô phụ chết thôi.
*
Tuyết Phong có lúc nói với chúng rằng:
- Đường đường mật mật.
Sư bước ra nói:
- Cái gì đường đường mật mật?
Tuyết Phong đứng lên nói:
- Ông nói cái gì?
Sư thoái lui mà đứng. Tuyết Phong thùy ngữ rằng:
- Chuyện đó tôn quý thế nào? Chuyện đó huyền mật thế nào?
Sư đáp rằng:
- Đạo Phó con đến đây mấy năm rồi mà chưa từng nghe Hòa thượng chỉ dạy thế nào.
Tuyết Phong nói:
- Ta lúc trước tuy không, nhưng nay thì có. Chẳng có chỗ phương hại.
Sư nói:
- Không dám ! Đó là chuyện Hòa thượng bất đắc dĩ phải thế.
Tuyết Phong nói:
- Cho dù ta như thế.
Sư từ đó tín nhập nhưng vẫn theo trong chúng, vùng Mân Trung cho sư là Tiểu Phó áo vải.
*
Nhân lao động tập thể (Phổ thỉnh), Tuyết Phong nêu câu nói của Qui Sơn ‘Kiến sắc tiện minh tâm’ hỏi sư còn có lỗi hay không. Sư đáp:
- Người xưa vì chuyện gì thế?
Tuyết Phong nói:
- Tuy là như vậy cũng nên cùng ông thương lượng.
Sư nói:
- Nếu thế thì chẳng bằng Đạo Phó cày đất.
*
Ngày kia, Tuyết Phong hỏi sư:
- Từ đâu tới?
Sư đáp:
- Từ bên ngoài tới.
Tuyết Phong hỏi:
- Gặp Đạt Ma ở đâu vậy?
Sư nói:
- Há còn nhớ ở đâu sao?
Tuyết Phong nói:
- Ta không tin ông đâu.
Sư nói:
- Hòa thượng chớ có bầy nhầy như thế !
Tuyết Phong hứa khả.
*
Sư sau đó đi khắp chư phương, càng tăng thêm quyền trí. Sư đến bái phỏng Hòa thượng Tào Sơn Bổn Tịch. Bổn Tịch hỏi:
- Từ đâu tới?
Sư đáp:
- Hôm qua rời Minh Thủy.
Bổn Tịch hỏi:
- Đến Minh Thủy lúc nào vậy?
Sư đáp:
- Đến lúc Hòa thượng đến.
Bổn Tịch hỏi:
- Ông nói ta đến Minh Thủy lúc nào?
Sư đáp:
- Vừa rồi còn nhớ mà !
Bổn Tịch nói:
- Đúng vậy ! Đúng vậy !
*
Sư chấm dứt chuyện vân du tham thỉnh, dừng trụ tại Thiền uyển Cảnh Thanh Việt Châu, xiển dương yếu chỉ của Tuyết Phong, người học theo về rất đông, trong đó có vị phó sứ tên Bì Quang Nghiệp, vốn là con của Nhật Hưu, từ học sâu rộng, bao lần đến hỏi khó sư, khi lui ra nói với mọi người rằng:
- Luận lý cao siêu của Phó sư, không ai thấy nổi chỗ cùng cực.
Có ông tăng mới đến tham yết, sư cất cây xơ quất lên. Tăng nói:
- Từ lâu ngưỡng mộ Cảnh Thanh, dè đâu cũng còn cái mửng ấy.
Sư nói:
- Hôm nay gặp người hay không gặp người?
Tăng hỏi:
- Thế nào là nói thẳng linh nguyên?
Sư nói:
- Hồ nước ở Cảnh Thanh sâu lắm.
*
Sư hỏi tăng:
- Từ đâu tới?
Đáp:
- Từ Ứng Thiên tới.
Sư hỏi:
- Có thấy cá sộp không?
Chú: Nguyên văn ‘Man Lê ngư’ là con cá sộp.
Tăng đáp:
- Không thấy.
Sư nói:
- Xà-lê không thấy con cá sộp, hay cá sộp không thấy xà-lê?
Tăng nói:
- Đều không là như thế.
Sư nói:
- Xà-lê chỉ biết cẩn thận lúc đầu, kỹ lưỡng lúc sau.
Hỏi:
- Kẻ học này chưa đạt nguồn gốc, thỉnh sư phương tiện chỉ dạy!
Sư nói:
- Là nguồn gốc nào?
Tăng đáp:
- Nguồn gốc đó.
Sư nói:
- Nếu là nguồn gốc đó thì cần chi phương tiện.
Tăng lễ bái lui ra. Sau đó, thị giả hỏi:
- Hòa thượng vừa rồi há phải chăng thành toàn câu hỏi của y?
Sư nói:
- Không đâu.
Hỏi:
- Nếu vậy thì không thành toàn câu hỏi của y?
Sư đáp:
- Cũng không phải.
Hỏi:
- Nếu thế thì xin hỏi rốt lại ý thế nào?
Sư nói:
- Một châm mực, thành rồng hai nơi.
*
Sư ngồi trong trướng, có tăng thưa hỏi. Sư vén màn hỏi:
- Nên đứt đoạn không đứt đoạn, trái lại rước đứt đoạn.
Tăng hỏi:
- Nếu cần phải đứt đoạn, vì sao không đứt đoạn?
Sư nói:
- Nếu ta tận pháp lại e không có dân.
Nói:
- Không sợ chẳng có dân, thỉnh sư tận pháp !
Sư nói:
- Duy-na đâu ! Hãy lôi ông tăng này ra ngoài coi !
Lại nói:
- Thôi thôi ! Ta hồi ở phương Nam đã biết ông tăng này rồi.
*
Nhân lao động tập thể đang giẫy cỏ, tăng coi buồng tắm thỉnh sư tắm.
Chú: Vì bên Trung Quốc vào mùa đông lạnh lắm, nên không thể tắm bằng nước thường được mà phải pha nước nóng, cho nên trong chùa mới có ông tăng chuyên lo nước nóng cho mọi người tắm, gọi là ‘Dục đầu’.
Sư chẳng để ý đến, dục đầu mời đến ba lần. Sư đưa cây cuốc lên làm thế muốn đánh. Dục đầu bèn chạy, sư gọi lại nói:
- Lại đây ! Lại đây !
Dục đầu quay đầu lại, sư nói:
- Ngày sau gặp bậc Thiền sư trác việt nên thuật kể rành rành. Ông tăng này về sau đến chỗ Bảo Phước, thuật lại chưa hết tự sự, Bảo Phước dùng tay bịt miệng ông ta. Tăng lại quay về thuật lại với sư, sư nói:
- Dù ông là như thế, vẫn chưa phải bậc tác gia.
*
Sư hỏi Hà Ngọc:
- Từ đâu tới?
Đáp:
- Từ Thiên Thai lại.
Sư nói:
- Ta há hỏi ông Thiên Thai sao.
Nói:
- Hòa thượng sao lại đầu rồng, đuôi rắn.
Sư nói:
- Cảnh Thanh ta hôm nay thất lợi.
*
Sư xem kinh, tăng hỏi:
- Hòa thượng xem kinh gì thế?
Sư nói:
- Ta cùng người xưa đấu nhau trăm hiệp đường thảo.
Sư lại bỗng hỏi:
- Ông có lãnh hội không?
Tăng nói:
- Hồi còn nhỏ cũng đã từng như thế.
Sư hỏi:
- Nhưng hôm nay thì thế nào?
Tăng đưa nắm đấm lên, sư nói:
- Ta thua ông vậy.
*
Tăng đến tham yết, sư hỏi:
- Xà-lê từ đâu đến?
Tăng đáp:
- Từ nước Phật đến.
Sư nói:
- Phật lấy gì làm nước?
Đáp:
- Lấy thanh tịnh, trang nghiêm làm nước.
Sư hỏi:
- Nước lấy gì làm Phật?
Đáp:
- Lấy diệu tịnh chân thường làm Phật.
Sư hỏi:
- Xà-lê từ diệu tịnh đến hay từ trang nghiêm đến?
Tăng nói:
- Chẳng không đối đáp.
Sư nói:
- Hư, hư ! Chỗ khác nếu có ai hỏi ông, không nên đưa lời lẽ như thế!
Tiền vương muốn mở rộng Thiền hội trong phủ mới vời sư cư chùa Thiên Long. Vương vừa gặp sư liền nói: ‘Đúng là đạo nhân’, đoạn trí lễ cẩn hậu. Do đó mà vùng Ngô Việt rất thạnh huyền học. Sau đó lại xây chùa Long Sách, thỉnh sư đến ở.
*
Sư thượng đường nói:
- Như nay chuyện bất đắc dĩ mới nói cùng các vị. Nếu tự nghiệm, thân thiết tới bổn phần thượng các vị, vì sao mà lại sanh sợ. Chẳng qua là do bỏ nhà mình quá lâu, lưu lạc nhiều năm, toàn hướng theo duyên trần, đến nỗi thấy như thế. Cho nên mới gọi là nghịch với giác mà hợp với trần, cũng gọi là bỏ cha mà chạy trốn. Nay khuyên các anh em, nếu chưa dừng nghỉ thì hãy nghỉ đi. Chưa thấu triệt thì hãy thấu triệt đi. Kẻ đại trượng phu sao lại chẳng khí khái như thế. Còn dụ dự chăng? Suốt ngày ngơ ngác, sao không tìm con dường quản đái? Mà cũng không ai hỏi ta con đường quản đái.
Lúc ấy, có tăng hỏi:
- Thế nào là một con đường quản đái?
Sư nói:
- Hư, hư ! Muốn ăn gậy thì nói !
Hỏi:
- Thế nào là tội lỗi của kẻ học này?
Sư nói:
- Cơ hồ bị ông đả phá.
*
Thái Châu hỏi:
- Không nguồn có đường không về thì thế nào?
Sư nói:
- Ông sư tăng này được ngồi thì cứ ngồi.
Hỏi:
- Thế nào là tâm?
Sư nói:
- Đó tức là hai đầu.
Nói:
- Không phải thì thế nào?
Sư nói:
- Lại không thành đầu đó.
Hỏi:
- Phải, không phải, đều không như thế thì thế nào ?
Sư nói:
- Lại càng lỗi lầm.
Hỏi:
- Trong 12 thời thìn lấy gì làm nghiệm?
Sư nói:
- Đắc lực thì hướng về ta mà nói.
Tăng nói:
- Vâng ạ !
Sư nói:
- Mười muôn tám ngàn có thể gần.
Hỏi:
- Thế nào là cửa phương tiện mau dễ thành tựu?
Sư nói:
- Mau dễ thành tựu.
Nói:
- Ngặt nỗi học nhân đây lĩnh lãm chưa trúng đích.
Sư nói:
- Thay được thì thay đi !
*
Hỏi:
- Thế nào là huyền trong huyền?
Sư nói:
- Không phải thì thế nào?
Hỏi:
- Có còn đúng không vậy?
Sư nói:
- Cây gỗ biết nói chuyện.
Hỏi:
- Thế nào là người không tâm hiệp đạo?
Sư nói:
- Sao không hỏi đạo vô tâm hiệp người.
Hỏi:
- Thế nào là đạo vô tâm hiệp người?
Sư nói:
- Mây trắng chợt đến núi xanh, trăng sáng làm sao bảo hạ trời biếc.
Nói:
- Kẻ học này hỏi không tới chỗ, thỉnh sư đừng đáp. Còn sư đáp không tới chỗ thì kẻ học này không hỏi.
Sư bèn chộp tăng nói:
- Là đạo lý của ta hay đạo lý của ông?
Tăng nói:
- Hòa thượng nếu đánh kẻ học này thì cứ đánh.
Sư nói:
- Đắc đối tương canh khứ.
*
Tăng nêu câu chuyện hỏi:
- Có tăng từ giã Qui Tông. Qui Tông hỏi: ‘Đi về đâu?’. Tăng đáp: ‘Đi đến Bách Trượng học ngũ vị thiền’. Qui Tông không nói gì.
Sư liền nói:
- Nhân vì đó là chuyện đơn hành của Qui Tông.
Tăng hỏi:
- Thế nào là chuyện Qui Tông đơn hành?
Sư nói:
- Đánh rồi đuổi ra khỏi viện.
Tăng lễ bái, sư hỏi:
- Làm sao lãnh hội?
Táng nói:
- Kẻ học này tội lỗi.
Sư nói:
- Liệu ông đi thế nào?
Hỏi:
- Thừa mong sư có lời, chư phương nếu không phải đi đứng thì là người trong lờ cá, trong lồng chim. Xin hỏi Hòa thượng thế nào?
Sư nói:
- Bị ông hỏi như thế, khiến rụng cả răng cửa.
Hỏi:
-Thế nào là chuyện thâm mật?
Sư nói:
- Thường dùng kịp người.
Hỏi:
- Kẻ không biết thì thế nào?
Sư nói:
- Trời trong nhiều, mưa lớn.
*
Sư hỏi tăng:
- Bên ngoài là tiếng gì đấy?
Tăng đáp:
- Tiếng giọt mưa rơi.
Sư nói:
- Chúng sanh điên đảo, mê tự kỷ mà rượt đuổi theo vật.
*
Tăng hỏi:
- Thế nào là tướng giống nhau?
Sư lấy cặp đũa bếp gắp lửa cặm vô trong lò, tăng lại hỏi:
- Thế nào là tướng khác nhau?
Sư bèn lấy cặp đũa bếp gắp lửa cặm qua một bên.
Pháp Nhãn biệt vân:
- Hỏi chẳng đương lý.
*
Tăng dẫn một đứa trẻ đến nói rằng đứa trẻ này ưa hỏi tăng về Phật pháp, xin sư khám nghiệm. Sư bèn bảo pha trà. Đứa bé pha trà đem lại. Sư uống xong đưa cái khay cho đứa bé. Đứa bé bước đến gần định lấy, sư liền rụt tay lại nói:
- Còn nói được không vậy?
Đứa bé nói:
- Hãy hỏi thử coi !
Pháp Nhãn biệt vân:
- Hòa thượng dùng trà đi.
Tăng hỏi:
- Thưa Hòa thượng, đứa trẻ này kiến giải thế nào?
Sư nói:
- Cũng là một hai ông tăng trì giới mà thôi.
Ngữ yếu của sư ở ba nơi khai pháp do môn nhân biên lục, nơi đây chỉ là khái lược mà thôi. Tháng 8 năm Đinh Dậu, nhằm năm Thiên Phước thứ hai nhà Tấn, sư thị diệt, thọ 74 tuổi, tăng tục đều đau đớn khóc than, kẻ mặc đồ tang rất đông. Trà tỳ tại núi Đại Từ, thu thập xá-lợi, xây tháp tại góc núi Long Mẫu.
Phần phụ lục:
Sư hỏi ông tăng:
- Bên ngoài là tiếng gì thế?
Tăng đáp:
- Là tiếng rắn cắn ễnh ương.
Sư nói:
- Vốn tưởng chỉ có khổ não chúng sanh, nào hay đâu lại có chúng sanh khổ não !
(Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 7)
