Tiểu Sử
| Danh Tánh | 0-TS Kính Sơn Đạo Xung -
|
||
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | 0-TS Tiến Phúc Đạo Sinh | ||
| Đồng Môn | ♂️ 0-TS Si Tuyệt Đạo Trùng | ||
Hành Trạng
1. Thiền sư Ðạo Xung ở Kính sơn. Thiền sư Ðạo Xung - Si Tuyệt ở Kính sơn, vốn người dòng họ Tuân ở Trường giang, Võ tín. Thân mẫu Sư vốn người dòng họ Quách. Sư vừa mới sinh mà trên sung túc dưới ngắn gọn, từ lúc thiếu thời lớn dần Sư đã cho là học hành đỗ đạt tiến sĩ ứng chiếu làm quan không lợi, bèn thọ học Phật pháp, đến lễ ái Sa-môn Tu Chứng ở viện Diệu quả tại tử châu cầu xin xuất gia. Xong, Sư vân du đến thành đô tập học kinh luận. Năm Nhâm tý (1192) thuộc niên hiệu Thiệu Hy (1190-1195) thời Nam Tống, ra khỏi hạp, Sư xoay quanh khắp xứ kinh sở. Bấy giờ, Thiền sư Nhạc - Tùng Nguyên đang xướng đạo của Thiền sư Hàm Kiệt - Mật Am ở Tiến phước tại Nhiêu châu, Sư bèn thẳng đến đó cầu xin nương tựa, nhưng gặp phải năm đói kém nên không nhận, lại nhân gặp Thiền sư Ðạo Sinh - Tào Nguyên ra đời hoằng hóa đang ở tại Diệu quả, nghe thế, Sư bèn vào cửa thưa hỏi đàm nói mà có sự tỉnh ngộ. Vào tham đường, bảo Sư hầu hương, Sư bèn sớm tối cùng theo đi, nắm đắm tay già vết đau cây gậy chẳng thiếu mượn vay, mọi thấy biết của thủa bình sinh đến đó phần nhiều đều không ảnh hưởng. Khi Thiền sư đạo sinh, chuyên dời đến Quy phong, Sư cũng theo hầu. Qua ba năm sau, viết kệ tụng giã từ đến đất chiếc, trong đó có lời nói là: “Còn thừa cùng cho một đôi tay, cần đến các phương gãi nơi ngứa”. Khi Sư đến kinh đô thì Thiền sư Nhạc - Tùng Nguyên lại đang chủ sự ở Linh ẩn, Sư bèn vào nương tựa. Ðến năm Kỷ mão (1219) thuộc niên hiệu Gia Ðịnh (1208-1225) thời Nam Tống, đang là ở đệ nhất tòa tại Kính sơn, Sư ứng đáp sự thỉnh mời đến ở Quang hiếu - Gia hòa hoằng hóa, nối dõi dòng pháp của Thiền sư Ðạo Sinh - Tào Nguyên. Bấy giờ Am Nguyên, Giác Am, Tức Thiền sư Nguyên - Phùng Am, Thiền sư Phạm. Vô Tướng, Thiền sư Nguyệt - Thạch Khê đều ở trong hội, đạo phong vang vọng đến triều đình. Trung hiếu Vệ vương dùng Ðường thiếp bái trừ Tương sơn, gần sông dễ ngâm nước nên phần nhiều ruộng dưới không được mùa, Sư nhẫn chịu đói kém, đi khất thực để nuôi dưỡng các bậc hiền sĩ, ở suốt mười ba năm mà không tỏ vẻ mệt nhọc. Ðến năm Kỷ hợi (1239) thuộc niên hiệu Gia Hy (1237-1241) thời Nam Tống, Thị lang Ðông Quyến Tào Công Bân Thống suất mâm châu, nghe đạo phong Sư vang vọng nên đem cổ sơn để mời đón Sư , chưa đi đến đó thì Từ Tuyết Phong có điệp văn đưa đến thỉnh mời. Sư đến nhận lãnh việc được nữa năm thì lại có chiếu ban mời đến ở Thiên đồng, chúng Tăng nhóm tụ như biển, pháp độ tu chỉnh tỏa sáng, tuy các bậc trí lớn hưng thạnh ở đương thời chẳng ai hơn được. Lại nữa tại Dục vương, pháp tịch bị trống phế, Sư phải nhận nhiếp việc trú trì, qua lai giảng pháp cả hai nơi. Có lúc lên giảng đường Sư bảo: “Thiên Ðồng dùng đến tận cùng, lại Dục vương dùng chẳng nhằm, tại Dục vương dùng đến tận cùng, trở về Dục vương dùng chẳng nhằm, tuy là như vậy, nơi dùng chẳng nhằm, nơi dùng có thừa, một mũi tên bắn cả hai con chim điêu tùy theo tay mà rơi lạc”. Lại nhân ngày kết hạ, lên giảng đường Sư bảo: “Già-lam Viên giác, mỗi mảy trần đều có đường, ngồi đứt đến đi, chóng trắng xưa nay, nơi nào mười ba, nơi này mười lăm, sau trước chẳng sai một mảy tóc. Ðáng cười Lão Cù-đàm mặt vàng, đến nay chẳng biết nói lạc. Ðến năm Giáp thìn (1244) tức năm Thuần Hựu thứ hai (1), lại có sắc chỉ dời đến ở Linh ẩn, mà ở đời hẳn có người không vừa ý đối với Sư, Sư bèn giống trống báo cùng đại chúng về ẩn náo tại Kim lăng, Kinh Triệu Duẫn sai quan thuộc theo tìm lôi kéo Sư đến ở Tô đài nhưng không thể được, triều đình lại ban lệnh lấy Hổ khâu làm nơi để Sư dưỡng Lão nhưng Sư cũng không đến. Lưu Thú Hư Trai Triệu Công lấy Tương sơn để thỉnh mời nhưng Sư cũng không đến. Mùa xuân năm Mậu thân (1248), tại Dục vương, Thiền sư Kham - Tiếu Ông tán phải pháp tịch, triều luận lấy nhà cũ đại giác chẳng khinh ban cho mời Sư đến ở ẩn tại đó, sai sứ đến ba lần nhưng đều trở về không, cuối cùng Sư chẳng vâng phụng sắc chiếu. Năm sau lên Kính sơn, chưa bao lâu nơi mạng ngực Sư cảm phát bệnh mãi qua mùa xuân năm sau không lành khỏi, nhưng Sư vẫn lên pháp tòa giảng pháp không phế bỏ, đến cuối tháng hai Sư mới không ra nhưng nói kệ tụng viết văn tán thán, vui cười nói bàn v ẫn như lúc bình thường. Vị Tăng hầu Sư cầu xin Sư lưu lại kệ tụng, Sư phẩy xua chẳng đoái hoài, thế rồi, Sư cười bảo vị Tăng ấy là: “Một câu cuối cùng, không thể thương lượng, chỉ cần mỗi người, ngay đó nhận lấy”. Từ đó, Sư vắng bặt thuốc thang, tuyệt dứt mọi việc bên ngoài, đến nữa đêm mười bốn (?), Sư ngồi dậy, khoảnh khắc bèn thị tịch - Ðồ chúng nghinh đưa về an táng tại trong núi Kim lăng”.
