Tiểu Sử
Hành Trạng
7. Thiền sư Tổ Giác ở Hoa nghiêm. Thiền sư Tổ Giác ở Hoa nghiêm - Trung nham tại My châu vốn người dòng họ Dương ở Gia châu. Từ thủa bé thơ, Sư đã thông minh mẫn tuệ, sách sử qua mắt bèn thành bài tụng, Sư soạn viết sách bài xích dòng họ Thích, cảnh xấu ác bỗng nhiên hiện khởi, Sư ăn năn hối quá cầu xin xuất gia, đến nương tựa Thiền sư Năng ở Tuệ mục. Sau đó, không bao lâu mụt nhọt ung thư phát mọc trên đầu gối, trải suốt năm năm mà các thầy thuốc chữa trị chẳng lành. Nhân viết bộ “Hoa Nghiêm Hợp Luận” vừa hoàn tất, ban đêm Sư cảm điềm mộng khác lạ, đến sáng ngày bèn vất bỏ gậy chống tự rảo bước đi. Một ngày no tụng kinh đến phẩm “hiện tướng” nói rằng: “Thân Phật không có sinh, mà hay hiện xuất sinh, pháp tánh như hư không, chư Phật trú trong đó, không ở cũng không đi, nơi nơi đều thấy Phật”, Sư bèn chứng ngộ Tông chỉ kinh Hoa Nghiêm. Kịp đến lúc lên Tăng tịch, Phủ soái thỉnh mời đến giảng ở Thiên bộ đường, Sư giảng nói ngồn từ biện giải rộng khoáng, mọi người đồng thán phục. Vừa đến Nam đường, Thiền sư Tỉnh qua cửa bảo cùng Sư rằng: “Trông thấy ông giảng nói riêng bước Tây nam, tiếc rằng chưa giải lìa tướng văn tự vậy! Thản như có người hỏi Ðạo phương ngoài, tức châu Kim cang ngày nay vậy”. Sư mừng vui thôi nghỉ giảng theo hướng Nam vân du đến nương tựa Thiền sư Viên Ngộ ở chung phụ. Một ngày nọ, Sư vào thất, Thiền sư Viên Ngộ nêu cử La Sơn nói: “Lúc có nói ngồi ngay đầu hổ tóm thâu đuôi hổ, dưới câu thứ nhất rõ Tông chỉ, lúc không có nói xem cơ bày bén nhọn như đồng điện phẩy, làm sao sống hiểu?” Sư trả lời không được. Giữa lúc đêm khuya tham cứu, bỗng nhiên có sự tỉnh ngộ, Sư bèn làm kệ tụng trình bày Thiền sư Viên Ngộ rằng: “Nhà ở đảnh non cao, lâu năm cài nửa cửa, tự than thân đã già, kế sống giao cháu con”. Thiền sư Viên Ngộ đọc xem đó, bèn hứa khả. Ngày hôm sau Sư vào thất, Thiền sư Viên Ngộ lại hỏi: “Công án hôm qua làm sao sống?” Sư định trả lời. Thiền sư Viên Ngộ bèn quát hét, bảo: “Phật pháp chẳng phải cái đạo lý ấy”. Sư lưu ở lại suốt năm năm mà càng thêm mê muộn. Sau, đến ở Thê Hiền tại Lô sơn. Sư đọc xem bộ “Tước Chấp Luận” của Thiền sư Viễn ở Phù sơn nói là: “Nếu nói ngộ có thân sơ, đâu có đời nay ngửi cỏ trong rừng chiên đàn?” Bỗng nhiên khế ngộ, Sư bèn làm kệ tụng gởi Thiền sư Viên Ngộ rằng: “Ra từng như cũ vào cỏ dại Lước trời lồng lộng không thể trốn Ai tin nghiệp duyên không nơi lánh Về lại chẳng sợ nói lớn lời”. Thiền sư Viên Ngộ rất mừng vui, đem ra chỉ bảo cùng đại chúng rằng: “Giác ngộ Hoa Nghiêm đã thấu triệt vậy”. Sư ở thời gian lâu sau, có vị Tăng hỏi: “Ðầu tiên oai âm vương, cuối cùng Phật Lâu Chí, chưa xét rõ tham thấy người gì?” Sư đáp: “Nhà ở tại thành Ðại lương, lại hỏi đường Trường an”. Lại hỏi: “Chỉ như Ðức Sơn vác sơ sao đi bộ, ý ở tại nơi nào?” Sư đáp: “Ép phá tròng mắt ông”. Lại hỏi: “Cùng Hòa thượng tỏ ngộ Tông chỉ Hoa Nghiêm, cùng đi được bao nhiêu?” Sư đáp: “Ðồng đường chẳng đồng vết”. Lại nói: “Ngày xưa Ðức Sơn, ngày nay Hòa thượng”. Sư bảo: “Chiều tối mặt nhật ngã Tây, nước xuôi dòng phương Ðông”. Có lúc lên giảng đường, Sư nêu cử: “Hòa thượng Thạch Sương thị tịch. Ðại chúng cầu thỉnh thủ tòa nối tiếp ngôi vị trú trì, Thị giả Kiền hỏi công án”. Sư bảo: “Tông sư đi ở như lửa đốt băng, thấu qua là chẳng liên quan, toàn cơ mất được vùi hết đường. Thủ tòa dính kẹt nơi một sắc, Thị giả thấy biết vượt thầy. Có thể gọi là Thể diệu mất Tông toàn mê đến trái, rất không biết Thủ tòa như cò trắng đứng trên tuyết, phẩm loại chẳng ngang bằng. Thị giả tợ chim phụng bay vút trời xanh chẳng vướng lưới vàng, một người đứng trên đỉnh núi cao vời, một người đi dưới đáy biển sâu thẳm, mỗi tự tùy phương mà lại, đồng hội trong chín lớp Thánh, mà nay cầu muốn biết hai người ấy chăng?” Sư dựng đứng cây phất trần lên và bảo: “Rồng nằm đầm biếc gió lạnh lạnh”. Sư duỗi cây phất trần xuống và tiếp bảo: “Hạc về Tiêu Hán trái Ma thiên”. Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là một tiếng hét như kiếm báu Kim cang Vương?” Sư đáp: “Vấy máu Phạm vương”. Lại hỏi: “Thế nào là một tiếng hét như sư tử ngồi soạt giữa đất?” Sư đáp: “Kinh giết dã hồ ly”. Lại hỏi: “Thế nào là một tiếng hét như mò đầu ngọn cỏ?” Sư đáp: “Kiểm được cốt ông ra”. Lại hỏi: “Thế nào là một tiếng hét chẳng dùng làm một tiếng hét?” Sư đáp: “Ngay phải biết lấy người nắm kim châm, chớ bảo uyên ương lông cánh đẹp”.
