Tiểu Sử
| Danh Tánh | 0-TS Dục Vương Pháp Ðạt -
|
||
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | 0-TS Phước Nghiêm Từ Cảm | ||
| Đồng Môn | ♂️ 0-TS Định Sơn Văn Phổ, ♂️ 0-TS Thiền Lâm Thiện Tùng, ♂️ 0-TS Thố Đầu Ngạn Thanh, ♂️ 0-TS Vọng Sơn Khế Tuyên, ♂️ 0-TS Định Sơn Tu Cử, ♂️ 0-TS Vân Cái Tử Tư, ♂️ 0-TS Nam Thiền Quang Tảo | ||
Hành Trạng
1. Thiền sư Pháp Ðạt ở Dục vương. Thiền sư Pháp Ðạt - Bảo Giám ở Dục vương tại Minh châu. Có vị Tăng hỏi: “Việc này chỉ chính mình tự biết, cớ sao chúng sinh tùy loại được hiểu?” Sư đáp: “Mắt thấy tai nghe”. Lại nói: “Binh lính theo ấn chuyển”. Sư đáp: “Ðức Sơn, Lâm Tế”. Lại hỏi: “Câu cuối cùng, ngày nay xin muốn được nghe?” Sư đáp: “Hôm qua có người hỏi ta, bèn liền cứng miệng. Lại hỏi: “Vì sao như vậy?” Sư đáp: “Chẳng ở Tương thủy gieo trăng sáng. Lại đến Thiên đồng nhìn mây trắng”. Lại hỏi: “Hạt cây không rễ có hiểu sinh mầm chăng?” Sư đáp: “Phỏng đợi đáp câu thoại lại sợ cô phụ Xà-lê”. Lại hỏi: “Lúc tác giả cùng gặp thì như thế nào?” Sư đáp: “Ngang bằng ra”. Lại nói: “Người học có phỏng nhằm”. Sư bèn đánh. Lại hỏi: “Chẳng bày ba lạy sao được chu toàn?” Sư đáp: “Nơi khác tức được”. Và Sư mới bảo: “Một pháp tuy rõ bày muôn thiện không. Ðến nơi nào phải dùng công phu, ngã tư trước mắt ngang dọc vậy, tự người khi ấy lạc nửa đường. Ðại chúng làm sao sống là câu rốt ráo? Giả sử lắng thần giữ trí, còn là ngủ am tranh, ngay như dứt Niệm quán không cũng thành ôm gốc cây đợi thỏ. Sống rỗng chết trôi chỉ vì chỉ nhớ vật báu mê quên nước nhà, ứ trệ vỏ xác mê mờ phong bao. Bởi vì tham trình rất xa, ngay như được tuyệt đường ngôn ngữ diệt mất tâm hành ở phần trên nạp Tăng đắm nguyên do gì, giả sử tâm pháp đều mất, hai đầu cắt dứt cũng là đè đầu trâu ăn cỏ, tranh tợ tai nghe mắt thấy miệng nói tân nghĩ suy, ngàn núi muôn sông phân trước mắt, Nam Bắc Ðông Tây tại đầu đường. Mất đó với yếu chỉ là ngư lỗ đao điếu, được đó ở nơi tâm lẫn vâng phác ngọc. Lưu xuất Tam giáo đều chỉ nhất tâm, hai bên gặp đầu muôn vật đều đủ. Ðến trong đó, nghĩ gì nhân nghĩa lễ trí nguyên hạnh lợi trinh, nói gì Bồ-đề Niết-bàn, thường lạc ngã tịnh, ngay phải nắm bỏ một bên. Hãy nhìn sơn Tăng nắm kiếm báu Kim cang cầm định giềng mối. Lấy Văn Thù làm tiên phong, lấy Phổ Hiền làm điện hậu, Quán m; Thế Chí bít tai trộm linh, Di-lặc Thích-ca nuốt tiếng uống hơi. May được Hoàng phong mênh mông, thuấn nhật rạng rỡ. Nạp Tăng trong thiên hạ ai dám đến trong hang quỷ làm kế sống? Lại có tin được kịp chăng?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Ðạo thái chẳng truyền lệnh Thiên tử, thời thôi xướng xa bình”. Sư lại bảo: “Nửa tiếp Thành Hoàng, nửa dựa thôn, một khe nước chảy nửa núi mây, lắng xa mùi vị có ai được, muôn đời xe vàng con cháu vua. Do đó, thấy nghe hay biết nghĩ lường phân biệt, một khi thấy bèn thấy, không vầng nguyệt thứ hai. Trời Nghiêu ngày Thuấn, ai hay đêm nổi thuyền đơn. Mây trắng gió trong nào hẳn đông hành xuân lệnh, cửa thẳng nhà ngay, cùng mắt không hạn núi xanh, chim kêu vượn hú rảo bước theo kia sai đường. Lật bồng nuốt xong, lại không một vật ngăn ngại người, gương xưa lau chùi lại chẳng lìa thời cũ sáng trong. Ngày ngày cùng hư không nắm tay, giờ giờ cùng Phật xưa đối đàm, khan thán ít nhiều người đói, tức bỏ đói giết trong Phạm-la, Dục vương nghĩ gì nói rõ có ba mươi gậy vốn hợp tự chánh đáng. Nhờ gặp mọi người chẳng biết, tạm bảo cây gậy nuốt tiếng uống hơi”. Sư lại bảo: “Ở núi ít ngày xuống núi nhiều, kính được nghe tên ai làm sao, tranh tợ mây trắng ở nơi sâu, vượn hoang chim núi mặc cao ca. Ðại chúng! Nắm hoa chỉ dạy, không tự chỉ ngực, mỉm cười đổi sắc mặt rơi lạc vầng trăng thứ hai. Thiếu thất xoay mặt vách tường, bên cạnh như không người, nửa đêm vượt qua sông tham trình rất xa. Lại mới nói Phật nói Tổ, trên đầu cắm thêm cái đầu, diễn điệu đàm chân trong bùn tẩy rửa đất, lắc hoa sọt gấm, miệng là cửa họa, lắng vậy không lời, giữ gốc cây đợi thỏ. Tất cả chẳng như là dùi sắt không lỗ. Người hạnh đạo làm sao tức là phải? Có hiểu chăng? Mây trắng tuy là vật vô tâm, đến nơi lại là mến núi xanh.
