Tiểu Sử
Hành Trạng
5. Thiền sư Nguyên Tỉnh ở Ðại tùy. Thiền sư Nguyên Tỉnh - Nam Ðường ở Ðại tùy tại Bành châu, về sau đổi tên là Ðạo Hưng, là con của Ðại Nho triệu Công Ước Trọng ở Ngọc Sơn - Lãng Chi. Năm mười tuổi, Sư cảm mắc bệnh rất nặng. Thân mẫu Sư tâm thành cầu đảo, cảm mộng khác thường, bèn khuyên Sư xuất gia, Sư đến nương tựa nối dõi ở viện Bảo sinh, Ðại từ tại Thành đô. Năm Nguyên Hựu thứ ba (1088) thời Bắc Tống, Sư thông rành kinh điển, được độ, lưu ở lại nơi giảng tụ có hơn năm trời rồi xuống phương Nam. Mới đầu, Sư đến tham yết Thiền sư n ở Vĩnh an, ngay câu thoại ba gậy nhanh chóng của Lâm Tế mà Sư phát sáng, tiếp theo Sư đến nương tựa các bậc danh túc và thảy đều xứng hợp ý. Nghe Ngũ tổ (Thiền sư Diễn) cơ biện cao trội, Sư muốn đến ức nén đó, bèn đến bái yết. Thiền sư Diễn mới bảo: “Ta ở đây chẳng sánh cùng các phương, phàm ở trong thất chẳng cần ông tiến tới thối lui, chỉ chỏ chống nắm, nhiễu quanh thiền sàn làm người nữ lễ bái dất dậy tọa cụ ngàn ban kỹ lưỡng. Chỉ cần ông ngay nơi một lợi nghe chín chắn, bèn là chỗ thấy của ông”. Sư bèn mịt mờ mà rút lui. Sư quyết tham suốt ba năm, một ngày nọ Nhập thất bải. Thiền sư Diễn bảo Sư rằng: “Ông mở lời đã được mười phần, thử lại cùng Ta nói xem?” Sư bèn phanh vạch trình bày. Thiền sư Diễn bảo: “Nói cũng nói được mười phần, lại cùng ta đoán xem”. Sư bèn tùy điều hỏi mà hán đoán”. Thiền sư Diễn lại bảo: “Khéo tức đã khéo, nhưng chưa từng được nơi nói năng của Lão Tăng. Sau khi thọ trai có thể đến nơi tháp Tổ sư, Ta sẽ vì ông mỗi mỗi xét qua mới được”. Khi đến nơi tháp, Thiền sư Diễn bèn đem các câu ngữ thoại tức tâm tức Phật, gã vác bảng ở Mục Châu, Nam Tuyền chém mèo cho nên, con chó có Phật tánh và không có Phật tánh của Triệu Châu dẫn hỏi, Sư đối đáp không ngưng trệ. Ðến câu thoại con chó của Tử Hồ, Thiền sư Diễn bèn đổi sắc mặt bảo: “Chẳng phải”. Sư hỏi: “Nếu chẳng phải tức thế nào?” Thiền sư Diễn bảo: “Ấy chẳng phải thì cùng mặt trước đều chẳng phải”. Sư nói: “Xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy”. Thiền sư Diễn bảo: “Xem kia nói, Tử Hồ có một con chó, trên lấy đầu người, giữa lấy eo người, dưới lấy cẳng chân người. Có người vào khéo trông xem. Mới thấy có vị Tăng vào cửa bèn bảo nhìn xem con chó, xoay đến Tử Hồ nói nơi nhìn xem con chó, mở bày một chuyển ngữ bảo Tử Hồ cứng lưỡi. Miệng Linh của Lão Tăng bèn là nơi ông rõ xác đáng vậy”. Ngày hôm sau vào thất, Sư im lặng mở hỏi thuyết ấy. Thiền sư Diễn cười bảo: “Không nói ông chẳng phải ngàn rõ trăm xác đáng đến người. Lời này chỉ là lời Tiên sư mở nói”. Sư hỏi: “Tôi là người gì được tợ đầu mối Hòa thượng?” Thiền sư Diễn bảo: “Không phải vậy, Lão Tăng tuy nương thừa tiếp nối kia, nghĩa là kia nói vụng về, bởi chữ dùng thủ của Viễn Lục Công tiếp người nên vậy. Nếu Lão Tăng cùng Viễn Lục Công, bèn cùng Bách Trượng, Hoàng Nghiệt, Nam Tuyền, Triệu Châu cùng đồng bạn nắm tay đồng đi, mới thấy lời nói vụng về tức chẳng kham”. Sư cho rằng không phải vậy, mới kéo gậy vượt qua sông, vừa gặp lúc nước lớn dâng tràn mới lưu lại, Tứ Tổ mới cùng đồng bạn lôi kéo trở về. Lại trải qua hai năm, Thiền sư Diễn mới hứa khả ấn chứng cho Sư, Sư từng thương lược cổ kim lần lượt. Thiền sư Diễn nắm tay Sư mà bảo: “Ðược ông nói phải là Tôi nêu cử, được ông nêu cử phải là Tôi nói, mà nay trở về sau bí yếu của Phật tổ các phương quan niệm không trốn lánh tay ông nắm bắt vậy”. Sư bèn dựng lập Nam Ðường mà dừng ở, từ đó tiếng tăm vang vọng khắp nơi, Thành đô soái tịch công đán thỉnh mời Sư khai đường giảng pháp tại gia Hựu. Sau đó không bao lâu, Sư chuyển đổi đến ở Chiêu giác rồi dời đến ở Năng nhân, và Ðại tùy. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Quân vương rành rẽ, tướng soái rõ ràng, một hồi được thắng, sáu nước bình an”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư nêu cử ngữ thoại của Lâm Tế đến tham vấn Hoàng Nghiệt, Hòa thượng Ðoan ở Bạch vân có bài tụng rằng: “Một đấm đấm ngã lầu Hoàng Hạc, một nhảy nhảy qua châu anh vũ. Lúc có ý khí thêm ý khi, nơi chẳng phong lưu cũng phong lưu”, rồi Sư bảo: “Với Ðại tùy tức chẳng như vậy, năm bảy mươi tuổi già suy bước không vững, mắt nhìn sáng rỡ ta chẳng điếc, bỗng nhiên có người khi phụ ta, một đấm đánh ngã qua cửa Ðông!” Lại có lúc lên giảng đường, hỏi đáp đã xong, Sư mới bảo: “Từ lúc có Tổ trở lại người lầm hiểu, chỉ lấy ngôn cú làm Thiền đạo, rất chẳng biết Ðạo vốn không thể, nhân thể mà đặt tên, Ðạo vốn không tên, nhân tên mà đặt hiệu, chỉ như vừa lại lên tòa mới nghĩ gì ra lại tiện nghĩ gì về chúng. Hãy nói đầy đủ mắt sáng hay chẳng đầy đủ mắt sáng? Nếu nói đầy đủ mắt sáng mới nghĩ gì ra lại, mắt tại nơi nào? Nếu nói chẳng đầy đủ mắt sáng sao hợp tiện nghĩ gì đi? Chư vị nhân giả? Ngay đây thấy được thích thản rành rẽ thì biết Nhị tổ (Thần Quang) lễ bái xong y như chỗ cũ mà đứng, thật được cốt tủy của Tổ sư Ðạt-ma, chỉ chút ấy là mạng căn của chư Phật ba đời, là mạng mạch của sáu đời Tổ sư, là nơi an thân lập mạng của các Lão Hòa thượng trong thiên hạ. Tuy là như vậy nhưng phải thân gần đến mới được”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Vườn ruộng của chính mình mặc tình canh cây, có nghiệp của Tổ tông dốc sức phải tranh nài, ngộ được ngồi bên đầu ngàn Thánh, dùng đến dưới Tam đồ cùng đi”. Có vị Tăng hỏi: “Tâm ấn Tổ sư, xin Sư chỉ thẳng?” Sư bảo: “Ông nghe nóng đốt chăng?” Vị Tăng ấy đáp: “Nghe”. Sư bảo: “Vả lại chẳng nghe lạnh”. Vì Tăng ấy lại hỏi: “Hòa thượng có nghe nóng đốt chăng?” Sư đáp: “Không nghe”. Lại hỏi: “Vì gì không nghe?” Sư lắc vẫy cái quạt, bảo: “Vì ta có cái này”. Lại hỏi: “Thế nào là đoạt người chẳng đoạt cảnh?” Sư đáp: “Bắt sống Ma vương xuyên lỗ mũi”. Lại hỏi: “Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt người?” Sư đáp: “Hạt cây trong tâm thuộc bọn ta”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh cả hai đều đoạt?” Sư đáp: “Một lưỡi câu ba núi liền sáu con ba ba”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh đều chẳng đoạt?” Sư đáp: “Giữa ban ngày cưỡi trâu xuyên qua chợ”. Lại hỏi: “Lúc hoa sen chưa ra khỏi nước thì thế nào?” Sư đáp: “Xinh đẹp”. Lại hỏi: “Sau khi đã ra khỏi nước thì thế nào?” Sư đáp: “Xinh đẹp”. Lại hỏi: “Thế nào là hoa sen?” Sư đáp: “Xinh đẹp”. Vì Tăng ấy bèn lễ bái. Sư bảo: “Cùng với ba cái đẹp kia, muôn sự đồng một lúc thôi nghĩ. Lại nói: “Với che giấu thiên hạ nơi thiên hạ tức chẳng hỏi. Vị Tăng ấy mới đưa nắm tay mà hỏi: Chỉ như cái này làm sao sống che giấu?” Sư đáp: “Trong tay áo”. Lại hỏi: “Chưa xét rõ thế nào là người kỷ cương Phật pháp?” Sư đáp: “Chẳng thể là Quỷ”. Lại hỏi: “Bỗng gặp kẻ giết Phật giết Tổ đến lại làm sao sống chi khiển?” Sư đáp: “Lão Tăng có mắt chưa từng thấy”. Lại hỏi: “Người học chợt vào tùng lâm, xin Sư chỉ bảo?” Sư đáp: “Ăn cháo ăn cơm chớ bảo phóng tại sau não”. Lại nói: “Trọn ngày lúc ăn chưa từng ăn”. Sư bảo: “Phụ lòng nạp Tử không biết tốt xấu”. Lại hỏi: “Lúc kiếp lửa thiêu đốt khắp đại thiên đều tiêu hoại, chưa xét rõ cái ấy tiêu hoại không?” Sư bảo: “Ai bảo ông nghĩ gì?” Sư lại hỏi vị Tăng ấy: “Ðến trước cúi mình?” Vị Tăng ấy đáp: “Chưa xét rõ”. Sư hỏi: “Là tiêu hoại hay chẳng tiêu hoại?” Vị Tăng ấy im lặng không đáp. Lại hỏi: “Thế nào là Thiền trong núi?” Sư đáp: “Trúc non trước sân trước mọc măng, tùng khô dưới khe cành già lớn”. Lại hỏi: “Thế nào là Thiền trong chợ?” Sư đáp: “Chuông trống giữa đường thông sáu ngã âm vận tung tung, tức nơi trải vàng trong thế giới”. Lại hỏi: “Thế nào là Thiền trong thôn?” Sư đáp: “Giặc cướp tiêu mất, tằm cuốn lúa chín, ngâm ca cổ vũ nhạc bình”. Lại hỏi: “Thế nào là nơi chư Phật xuất thân?” Sư đáp: “Hỏi được rất xác đáng”. Lại hỏi: “Lúc tiện nghĩ gì đi thì thế nào?” Sư đáp: “Ðáp được lại kỳ đặc”. Lại hỏi: “Nhân núi thấy nước, thấy nước quên núi, núi nước đều quên, lý ấy kết quy về nơi nào?” Sư đáp: “Sơn Tăng ngồi ngay đầu lưỡi, đất trời tối mịt”. Có một Lão Túc duỗi lời bảo rằng: “Ðầu đường ngã tư dựng một chòi tranh, chỉ là chẳng hứa cho người ỉa”. Vị Tăng ấy nêu cử hỏi Sư. Sư đáp: “Là ông trước ỉa rồi, lại bảo người nào ỉa?” vị Lão Túc ấy nghe vậy bèn đốt hương xa trông về Ðại Tùy kính bái cầu tạ Sư. Ðến trong tháng bảy năm Ất mão (1135) thuộc niên hiệu Thiệu hưng (1131-1163) thời Nam Tống, mưa tuyết lớn, trong núi có voi khác lạ xuất hiện, Sư bảo: “Thời kỳ của tôi đã đến vậy”. Ngày 17 tháng 07, Sư giả biệt quận thú, sau đó ba ngày, Sư hiện tướng cảm mắc chút bệnh ở Thiên bành. Ðến đêm 24 tháng 07, Sư hỏi vị Tăng Thị giả rằng: “Lúc trời sáng sớm không trăng thì thế nào?” Vị Tăng ấy im lặng không đáp. Sư bảo: “Ngược lại bảo ta cùng ông xuống lửa mới được”. Ngày hôm sau Sư trở lại nơi bờ đê viện khẩu giải, lưu lại lời dạy răn rồi an nhiên thị tịch. Môn nhân đệ tử nghinh thỉnh toàn thân Sư trở về, sương khói phủ khắp bốn phía, chim vượn kêu réo buồn thảm. Lúc trà tỳ có mùi hương thơm khác lạ tỏa khắp đồng trống, chiếc lưỡi vẫn y nguyên như cũ, xá-lợi năm sắc nhiều không thể tính kể, bèn an táng tại phía Tây tháp Ðịnh quang. Về sau, Trụ thiên đồng thiên mục văn lễ đắp họa tôn tượng Sư và tán thán, có thể khuyết bày hạnh thật của Sư vậy, nhân đều ghi lục đó. Bài tán ấy là: “Ðộng Sơn người một hội, chỉ kia chẳng loảng xoảng, riêng ở nơi nhàn phòng, tùng lâm khó giảng cứu, rắn đầm phương thủy ra kinh hãi người, nồi sắt dụt gà gáy giữa ngày, tạp kịch đánh lại, toàn lửa chỉ hầu, về già buông phóng sơ dong, tức cùng thế tục hòa đồng, cần ba từ khiến người khám nghiệm, ném hương giúp thêm tiện bày gia phong. Ðịnh quang không Phật uống phí lưới lồng, sắp đi lắc linh giữa hư không, nào biết tan hết tông mây trắng”.
