0-TS Đại Hồng Báo Ân

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Đại Hồng Báo Ân -
Sanh#1Năm Sanh1058
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTổ Thứ 44 - TS Đầu Tử Nghĩa Thanh - Ðời Thứ 7 Tông Tào Động
Đồng Môn ♂️ 0-Thị Giả Quả, ♂️ 0-TS Diên Hồng Thiện, ♂️ 0-TS Phổ Hiền Tiêu, ♂️ 0-TS Quang Hóa Tường, ♂️ 0-TS Phước Ứng Văn, ♂️ 0-TS Động Sơn Vân, ♂️ 0-TS Long Bàng Ðàm Quảng, ♂️ 0-TS Liễu Minh, ♂️ Tổ Thứ 45 - TS Phù Dung Đạo Giai - Ðời Thứ 8 Tông Tào Động, ♂️ 0-TS Tịnh Nhân Khải
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Tây Thiền Viễn, ♂️ 0-TS Đại Dương Ðán, ♂️ 0-TS Thiện Quang Tấn, ♂️ 0-TS Đại Hồng Trí, ♂️ 0-TS Đại Hồng Thủ Toại
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Tây Thiền Viễn
Tịch#1Viên Tịch1111

Hành Trạng

2. Thiền sư Báo Ân ở Ðại hồng. Thiền sư Báo Ân ở núi Ðại hồng tại Tùy châu, vốn người dòng họ Lưu ở Lê dương đất Vệ, gia đình nhiều đời đều là những bậc thạc nho. Chưa đến tuổi hai mươi, Sư trình cử phương lược, nâng dắt lên đỗ đạt. Sau, nhàm chán cảnh trần vào triều xin từ tạ áo dãi quan vị để xuất gia làm Tăng. Vua hứa thuận sự cầu xin đó. Sư bèn rong tâm trong Tổ đạo, đến nương tựa Thiền sư ở Ðầu tử. Sau đó không bao lâu bèn được tỏ ngộ tâm yếu. Thiền sư bảo: “Ông trở lại nơi đời nên khéo tự gìn giữ”. Giả từ Thiền sư , Sư đến bái yết các bậc danh túc và đều được ấn chứng. Thừa tướng Hàn Công Chấn thỉnh mời Sư đến khai giảng giáo pháp ở Thiếu lâm tại Tây kinh. Sau đó không lâu, Ðại hồng thay đổi chuyên Luật thành Thiền, nhà vua ban chiếu thỉnh mời Sư đến ở đó. Lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Năm lần năm là hai mươi lăm, căn cứ núi, chúa sấm núi mưa, nạp Tăng sáng mắt chẳng dạy nêu bày. Có vị Tăng hỏi: “Với Cửu đảnh lắng sóng tức không hỏi, còn việc vi thoại vi tường là thế nào?” Sư đáp: “Xưa nay chẳng rơi lạc”. Lại hỏi: “Cái ấy tạm rút bỏ một bên, với hướng thượng lại còn có việc gì không?” Sư đáp: “Rất không chàm chán sống”. Lại hỏi: “Tác gia Tông thừa như thế nào?” Sư đáp: “Cũng chưa tiêu được”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Hiểu câu thoại như thế, ai là người biết âm, ngay nhiều dưới một câu hướng có ngàn mắt chóng mở, đích xác là có mấy cái là mê gặp được Ðạt-ma. Các ông cần biết Tổ sư Ðạt-ma chăng?” Và Sư đưa tay làm thế nắm, tiếp bảo: “Tổ sư Ðạt-ma lỗ mũi năm trong tay Thiếu lâm. Nếu buông mở đi, theo giáo điển phương đây trời Tây nói vàng nói đen xem thường người Hồ khinh mạn người Hán. Nếu chẳng buông qua chẳng tiêu một nắm. Có người cần cùng Tổ sư làm chủ, tiện thể xin mời ra lại cùng Thiếu lâm gặp gỡ. Có hay chăng?”. Ngưng giây lát, Sư bảo: “Quả nhiên là có”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư nắm cây gậy dậy và bảo: “Thư tay ngày xưa Ðức Sơn Lâm Tế nắm lại, bèn có thể ngồi dứt mười phương vách dựng cao ngàn nhận, được ngay sông băng lửa nổi, cây khô nở hoa tỏa hương. Các người nếu cũng khéo hay vác ngang dựng đứng tươi tốt khắp hỏi các phương, nếu hoặc chẳng vậy thì Thiếu lâm đi ngược lệnh đây đi”. Xong, Sư gõ xuống thiền sàn một cái. Có vị Tăng hỏi: “Với một mũi tên một đàn tức không hỏi, còn một mũi tên một cái, việc ấy như thế nào?” Sư đáp: “Trúng”. Lại hỏi: “Còn có đầu mối đích xác không?” Sư đáp: “Ðồng tương ứng, đồng khí tương cầu”. Lại hỏi: “Thế nào thì Thạch Củng hiện còn?” Sư đáp: “Chẳng chỉ một cái hai cái”. Lại nói: “Khéo việc chẳng như không”. Sư bảo: “Xuyên lũng liền rõ”. Lại hỏi: “Với Tam huyền tam động tức chẳng hỏi, còn ngũ vị quân thần việc ấy như thế nào?” Sư đáp: “Chẳng phải cảnh giới của ông”. Lại hỏi: “Thế nào thì người đá vỗ tay, mộc nữ cười ha?” Sư đáp: “Tiêu bốc nghe tiếng rỗng, ngủ say nhiều nói mớ”. Lại hỏi: “Nếu chẳng từ trước lại hỏi, sao có thể thấy được cơ của Thiếu lâm?” Sư đáp: “Buông qua thì chẳng thể, theo sau tiện đánh”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư đè ngang cây gậy, bảo: “Tiện cùng gì nghĩ đi đã rơi lạc vào hai ba, lại nếu đau đáu thì trọn thành Dị kiến. Ðã đến trong ấy thì không thể cung gãy mũi tên - hết - Vả lại, nhà nạp Tăng xa thì hay chiếu, gần thì hay sáng”. Xong, Sư dựng cây gậy dậy, tiếp bảo: “Xuyên suốt tức lỗ mũi của Ðức Sơn, kéo ngược tức tròng mắt của Lâm Tế, xốc vút ra biển lớn, đánh chuyển hư không. Hãy nói ngoài ba ngàn cõi ai là biết tiếng? Ở đó mà rõ được thì tợ như mặt nhật soi chiếu giữa trời, nếu hoặc chưa rõ thì chẳng khỏi mây bay đến mưa”. Sư gõ xuống một cái. Có vị Tăng hỏi: “Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại, chín năm ngồi xoay mặt vách tường, một câu cuối cùng như thế nào xin Sư cử xướng?’ Sư bảo: “Mặt đen tròng mắt bạc trắng”. Sư từng đặt cả trăm câu hỏi để hỏi các học giả. Ðại lược như là: “Giả sử trăm ngàn kiếp trôi qua nhưng các hạnh nghiệp tác tạo vẫn không mất, vậy sao nói là một xưng Nam Mô Phật, diệt tội hết trong số kiếp như hằng sa?” Sư lại vẽ tướng vòng tròn và tiếp bảo: “Muôn hình vạn tượng tất cả tại trong đây, các Thiền nhân đầy đủ mắt sáng thử xin soi xét riêng”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư nắm lấy cây gậy và bảo: “Xem, xem đắt liền tuyết tràn lan, xuân lại khắp miền đất lạnh, Linh phong cùng với thiếu thất, liệu lắc chẳng cùng đến, nghĩ luận bàn về Phật ý Tổ ý, lừa dối cho là lời ngay nói thật, trâu sắt không dấu vết, trăng tỏ Lô Hoa, ông tự xem”. Xong, Sư chống cây gậy mà xuống khỏi tòa. Sư vốn cùng Cư sĩ Vô Tận, Trương Công Thương Anh kết bạn tốt lành. Cư sĩ Vô Tận từng gởi thư hỏi Sư về Tam giáo, đại lược cốt yếu như là: “Trong Lương sớ quyển ba nói tà kiến ở Tây vức chẳng vượt ngoài bốn thứ kiến chấp. Nho giáo và Ðạo giáo ở phương đây. Cũng chẳng vượt ngoài bốn thứ kiến chấp ấy. Như Trang Lão tính lường tự “Nhiên làm nhân có khả năng sinh ra muôn vật”. Tức là tà kiến. Theo Chu Dịch nói: “Thái cực sinh lưỡng nghi”. Thái cực là nhân cũng là Tà nhân. Nếu cho là “một âm một dương gọi đó là Ðạo”. Có khả năng sinh ra vạn vật cũng là Tà nhân. Nếu tính một (nhất) là hư không, thì là không nhân. Nay nghi ngờ thuyết “Tự nhiên” của Lão Tử và thuyết “Tự nhiên “ của ngoại đạo ở Tây vức là chẳng đồng. Lấy gì để nói vậy? Lão Tử nói: “Thường không dục (ham thích) để quán xét nó thì Huyền diệu, thường có dục để quán xét nó thì ngăn che. Không dục thì thường có, ngăn che thì đã vào trong Ðạo ấy vậy”. Nên gọi đó là Tà nhân. Há có nói ư? Lại nữa, Chu Dịch nói: “Một âm một dương gọi đó là đạo. m dương chẳng thể lường gọi đó là Thần. Thần ấy cũng huyền diệu với vạn vật mà vì nói. Vắng lặng tự nhiên bất động, cảm mà bèn thông khắp cùng thiên hạ. Nay mới phá đạo lý âm dương biến đổi là Tà nhân, đánh đi cái Thần không thể lường. Há có nói ư?” Sau khi xem dọc mong phê chỉ bày, vì muốn dứt trừ lưới nghi vậy”. Sư đáp rằng: “Các hàng ngoại Ðạo ở Tây vức Tông chủ có lắm đường, cốt lõi gồm thâu không ngoài có không cửa bốn thứ kiến chấp mà thôi, nghĩa là hữu kiến, vô kiến, diệc hữu diệc vô kiến, phi hữu phi vô kiến. Bởi vì chẳng ngay Nhất tâm làm đạo thì đạo chẳng ngã hữu, nên gọi là ngoại đạo. Chẳng ngay các pháp làm tâm thì pháp tùy kiến dị nên gọi là tà kiến. Như gọi đó hữu, hữu thì hữu vô, như gọi đó vô, vô thì vô hữu, hữu vô thì hữu kiến đua tranh phát sinh, vô hữu thì vô kiến ấy khởi. Như diệc hữu diệc vô kiến, phi hữu phi vô kiến cũng như thế vậy. Phàm chẳng thể lìa các kiến thì không lấy gì để tỏ sáng tự tâm. Không lấy gì để tỏ sáng tự tâm thì không biết chánh đạo. Nên trong kinh nói: “Giáo pháp nói ra bằng ngôn từ hàng tiểu trí vọng phân biệt, chẳng thể rõ tự tâm, làm sao biết chánh đạo?” Lại nói: “Hữu kiến tức là dơ bẩn, đây thì chưa là kiến, xa lìa nơi các kiến, như vậy mới thấy Phật”. Lấy đó để luận bàn thì Tà chánh khác đường, chánh do kiến ngộ, khác đến cùng nên vậy. Nên Lương đem Trang Lão tính nói pháp Tự nhiên có khả năng sinh muôn vật. Chu Dịch cho là Thái cực sinh lưỡng nghi, một âm một dương gọi đó là đạo. Lấy tự nhiên Thái cực làm nhân. Một âm một dương là đạo, có khả năng sinh ra muôn vật thì là Tà nhân. Tính một (nhất) là hư không thì là không nhân. Thường thử luận đó, phàm ba cõi Duy tâm, muôn duyên nhất trí. Tâm sinh nên pháp sinh, tâm diệt nên pháp diệt. Suy mà rộng ra càng khắp vạn hữu mà chẳng phải có, bao gồm mà hợp đó rốt cùng tịch diệt mà chẳng không. Phi vô diệc phi phi vô, phi hữu diệc phi phi hữu. Bến kiến chấp đã mất, trăm phi đều dứt trừ, thì tự nhiên, nhân duyên đều là hý luận, hư vô, chân thật đều là giả danh. Ðến như cho rằng Thái cực âm dương hay sinh ra vạn vật, thường vô thường hữu ấy là môn của các huyền diệu. m dương chẳng thể lường thì gọi đó là Thần của vô phương. Tuy Thánh nhân thiết giáo khai ngộ có lắm phương. Nhưng đã khác với Nhất tâm, há chẳng là Bến kiến chấp. Lấy gì để rõ biết vậy? Bởi vì hư vô là đạo, đạo thì là vô, như tự nhiên, như Thái cực, như một âm một dương là đạo, đạo thì là hữu thường. Vô thường hữu thì là cũng vô cũng hữu, âm dương chẳng thể lường thì là phi hữu phi vô. Các bậc Tiên Nho hoặc cho là huyền diệu vạn vật thì gọi đó là Thần thì phi vật vật. Vật thì cũng là vô. Nên cái Ðại luận Sư ở Tây vức đều cho quan điểm ngoài tâm có pháp là ngoại đạo, vạn pháp duy tâm là chánh tông. Bởi lấy tâm làm tông thì các kiến chấp tự mất. Nói tuy hoặc có khác nhưng chưa đủ lấy làm khác, còn ngoài tâm có pháp thì các kiến chấp đua nhau phát sinh, nói tuy hoặc đồng nhưng chưa thể lấy làm đồng. Tuy là Thánh nhân trong Nho giáo và Ðạo giáo chẳng phải không biết đó, mới còn mà chẳng luận vậy. Như các hàng ngoại đạo ở Tây vức đều là Ðài Quyền Bồ-tát chỉ bày khai hóa điều thi thiết. Ấy chánh là đạo của Thánh nhân thuận nghịch đều là Tông, chẳng phải chỗ nghĩ lường mà có thể biết được. Nên người xưa có nói, duyên xưa chân Tông chưa đến. Khổng Tử lại lấy buộc tâm, nay biết lý có chỗ kết quy, chẳng nên như chấp quyền giáo, nhưng biết quyền ấy là quyền chưa hẳn biết quyền, biết quyền ấy là thật ấy mới là biết quyền, là cũng bản ý của các vị Chu, Khổng, Lão, Trang thiết giáo lập ngôn. Một Ðại sự nhân duyên ấy mới thành thủy thành chung, thì Tam giáo Nhất tâm tuy đồng đường mà khác vết. Rốt cùng Ðạo tông vẫn không ngôn thuyết. Nếu chẳng phải là đạo sĩ Duy-ma thì ai có thể biết được ý ấy”.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.