Tiểu Sử
Hành Trạng
6. Thiền sư Pháp Thuận ở Bạch dương. Thiền sư Pháp Thuận ở Bạch dương tại Phủ châu. Vốn người dòng họ Văn ở Miên châu, Sư đến nương tựa Thiền sư Viễn - Phật Nhãn, nhân lúc chỉ dạy chung cả đại chúng, nghe nêu cử “Tâm Vương Minh” của Phó Ðại sĩ rằng: “Vị mặn trong nước, keo xanh trong sắc, nhất định là có nhưng không thể thấy được hình dáng đó”. Ngay lời nói ấy, Sư bèn có sự tỉnh ngộ. Sau đó nhấn trông xem Bảo tạng chuyển đổi nhanh chóng tỏ sáng Ðại pháp. Sư đến phương trượng lễ bái, trình bày kệ tụng rằng: “Ðảnh có đội núi mây từ từ, nguồn không riêng mạch nước lạnh lạnh, đi núi chưa đến nơi cùng núi, trọn bị núi xanh chướng tròng mắt”. Thiền sư Viễn cười mà hứa khả đó. Ở lâu sau lên giảng đường, Sư bảo: “Việc tốt đống đống chất chất lại, chẳng phải tạo tác với an bài, lá rừng vàng rơi nước đầy đi, mây trắng giăng cốc gió cuộn về, nhạn lạnh một tiếng tình niệm dứt, chuông sương vừa động núi ngã đổ. Bạch dương lại có nơi người qua, đêm tàn lò lạnh đánh tro chết, bồng có nạp Tăng ra cùng nói Trưởng lão thiếu bán vui đùa được nghĩ gì khổ khổ xin cùng, sơn Tăng chỉ hướng kia bảo tức bị ông nói nhằm”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Tay ta nào tợ tay Phật, Nam tinh Bắc đẩu trên trời, chân ta sao tợ chân lừa, việc đi đều lại quên ngay, người người đều có duyên sinh, mỗi mỗi chân vuông đảnh tròn. Ðịa ngục đứng nơi đầu khe, trăng lẻ bóng rơi vịnh sâu, hiểu chẳng được, thấy lại khó, một khúc nhạc ngư ông ca qua khe xa”. Có lúc Sư chỉ dạy đại chúng: “Nhiễm duyên dễ tới, Ðạo nghiệp khó thành, chẳng rõ muôn duyên sai biệt trước mắt, chỉ thấy cảnh gió mênh mông, rừng công đức điêu tàn, đốt lửa tâm hừng hực, tận cùng gốc cây Bồ-đề, đạo niệm nếu đồng, tình niệm thành Phật lắm thời. Vì đại chúng chỉ tợ vì chính mình, việc đây kia rành rẽ, chẳng thấy người không phải ta là phải. Tự nhiên trên kính dưới cung, Phật pháp thường luôn hiện tiền, phiền não bụi trần giải thoát”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Gà gáy trăng sáng chó sủa thung khô. Chỉ có thể chấm hiểu, khó vào tư lương, nơi nhìn chẳng thấy, động đất phóng ánh sáng, nơi nói chẳng đến, đất trời vàng đen, phủ thành thước sáu trang giấy, xưa nay ra ở dòng trong. Ðại chúng, rành rẽ nói ra người chẳng thấy, đêm qua canh ba trăng vào cửa”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Gió thổi cỏ tranh, đèn trong nhà rỉ nước đổ, tròng mắt Xà-lê thấm ướt, nghĩ gì rõ ràng tức không biết, liền lại trong đó cúi đầu đứng”. Khi ấy có Thượng tọa Thiệu Ðăng nghe vậy mà có sự tỉnh ngộ. Về sau, Sư đến ở Quảng giáo tại Vụ châu. Nhân lúc cảm bệnh, Sư chỉ dạy đại chúng rằng: “Bệnh lâu chưa từng thay gối gỗ, người lại phần nhiều hỏi thế nào? Sơn Tăng theo hỏi tùy duyên đáp, ngoài cửa ly vàng lại lắm lời, chỉ như tấm thân bảy thước nhận chịu bệnh nơi nào? Trong chúng, ai người đầy đủ mắt sáng thừ vì sơn Tăng chỉ ra nguồn bệnh xem?” Trong chúng mọi người mở lời nhưng đều không khế hợp, Sư tự vỗ tay xuống một cái và làm tiếng ói mửa, rồi Sư tiếp bảo: “Khéo cái gối gỗ”. Sư nghiêm trì giới luật tự bạch tiết khổ, ra vào chỉ gậy nón riêng đi. Sau khi Sư thị tịch, trà tỳ, thâu nhặt được xá-lợi tròng mắt, răng, chiếc lưỡi, chuỗi châu và linh cốt, đều nghinh đưa đến dựng tháp an táng tại phía Tây của chùa.
