0-Cư Sĩ Thị Lang Trương Cửu Thành

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-Cư Sĩ Thị Lang Trương Cửu Thành -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Đại Huệ Tông Cảo
Đồng Môn ♂️ 0-TS Quan Tây Ni Chân Như, ♂️ 0-TS Chánh Hoán, ♂️ 0-TS Ngưỡng Sơn Viên, ♂️ 0-TS Chánh Pháp Tú, ♂️ 0-TS Chiêu Giác Tổ Minh, ♂️ 0-TS Đại Minh Quảng Dung, ♂️ 0-TS Minh Chiêu Vi, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Lập, ♂️ 0-TS Thạch Tuyền Vịnh, ♂️ 0-TS Pháp Hoằng, ♂️ 0-TS Tùng Khánh Khánh, ♂️ 0-TS Hưng Vương Như Chiêu, ♂️ 0-TS Minh Chiếu Quán, ♂️ 0-TS Ngọc Tuyền Ðạo Thành, ♂️ 0-TS Đại Quy Như Hối, ♂️ 0-TS Thủy Lục Dã Am, ♂️ 0-TS Tiến Phước Phổ Nhân, ♂️ 0-TS Chu Phong Khánh Lão, ♂️ 0-TS Báo Ân Hạnh, ♂️ 0-TS Pháp Tế Tăng Ngạc, ♂️ 0-TS Tú Phong Nam, ♂️ 0-TS Mặc Thủy Ðàm Chấn, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Viên, ♂️ 0-TS Tương Sơn Ðẳng Thuyên, ♂️ 0-TS Long Tường Tông Thường, ♂️ 0-TS Thạch Môn Nhân, ♂️ 0-TS Bác Sơn Năng, ♂️ 0-TS Tiến Phước Diệu Hy, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Tổ Ngạn, ♂️ 0-TS Báo Ân Sùng Hải, ♂️ 0-TS Khánh Thành Xung, ♂️ 0-TS Phước Nghiêm Liễu Hiền, ♂️ 0-TS Hoa Tạng Giác Ấn, ♂️ 0-TS Đại Bi Gián, ♂️ 0-TS Kính Sn Hữu Tài, ♂️ 0-TS Tương Sơn Ân, ♂️ 0-TS Cư Sĩ Trịnh Ngang, ♂️ 0-TS Cửu Đảnh Pháp Sinh, ♂️ 0-TS Vân Ngọa Hiểu Oánh, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Lâm, ♂️ 0-TS Nhạc, ♂️ 0-TS Long Nha Tín, ♂️ 0-TS Tượng Điền Tín, ♂️ 0-TS Tường Phù Như Bản, ♂️ 0-TS Tường Điền Ðức, ♂️ 0-TS Y Sơn Xung Mật, ♂️ 0-TS Hoàng Văn Xướng Biên Tu, ♂️ 0-TS Lạc Khổ Tướng, ♂️ 0-TS Đại Quy Huệ Ngưỡng, ♂️ 0-TS Kính Sơn Tổ Khánh, ♂️ 0-TS Nam Hoa Nhân, ♂️ 0-TS Long Vương Tự Ẩn, ♂️ 0-TS Chiêu Giác Tử Văn, ♂️ 0-TS Đại Vân Dĩnh, ♂️ 0-TS Nhạc Lộc Phạm, ♂️ 0-TS Hoa Dược Kế Minh, ♂️ 0-Ðạo Giả Tổ Lân, ♂️ 0-TS Kính Sơn Liễu Minh, ♂️ 0-Tần Quốc Kế Thị Phu Nhân, ♂️ 0-TS Thanh Lương Châu, ♂️ 0-Ðạo Nhân Siêu Tông, ♂️ 0-TS Tuyết Phong Tuệ Nhiên, ♂️ 0-Cư Sĩ Ðề Hình Ngô Vĩ Minh, ♂️ 0-Cư Sĩ Bảo Học Lưu Ngạn Tu, ♂️ 0-Cư sĩ Tham Chánh Lý Bính, ♀️ 0-TSN Tư Thọ Diệu Tổng, ♂️ 0-TS Cận Lễ, ♂️ 0-TS Trúc Nguyên Tông Nguyên, ♂️ 0-TS Linh Ẩn Ðạo Ấn, ♂️ 0-TS Liên Vân Ðạo Năng, ♂️ 0-TS Tuyết Phong Uẩn Vân, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Trí Viễn, ♀️ 0-TSN Tịnh Cư Diệu Ðạo, ♂️ 0-TS Linh Ẩn Liễu Diễn, ♂️ 0-TS Vạn Thọ Tự Hộ, ♂️ 0-TS Tương Sơn Thiện Trực, ♂️ 0-TS Linh Nham Liễu Tánh, ♂️ 0-TS Tiến Phước Ngộ Bản, ♂️ 0-TS Ngọc Tuyền Ðàm Ý, ♂️ 0-TS Đại Quy Pháp Bảo, ♂️ 0-TS Tây Thiền Thủ Tịnh, ♂️ 0-TS Đông Thiền Tư Nhạc, ♂️ 0-TS Tây Thiền Ðảnh Nhu, ♂️ 0-TS Đại Quy Cảnh Vựng, ♂️ 0-TS Thiên Đồng Tịnh Toàn, ♂️ 0-TS Hoa Tạng Tông Diễn, ♂️ 0-TS Năng Nhân Tổ Nguyên, ♂️ 0-TS Dục Vương Tuân Phác, ♂️ 0-Cư Sĩ Môn Ty Hoàng Ngạn Tiết, ♂️ 0-TS Khai Thiện Đạo Khiêm, ♂️ 0-TS Đông Lâm Đạo Nhan, ♂️ 0-TS Giáo Trung Di Quang, ♂️ 0-TS Dục Vương Đức Quang

Hành Trạng

28. Cư sĩ Thị Lang Trương Cửu Thành. Cư sĩ Thị Lang Vô Cấu - Trương Cửu Thành. Lúc chưa đỗ đạt, nhân cùng khách đàm nói các bậc danh nho như Dương Văn Công, Lã Vi Trọng đạt được sự tinh diệu đều do từ Thiện học mà nên. Từ đó trong tâm Cư sĩ phát sinh kính mộ. Nghe Thiền sư Sở Minh - Bảo Ấn tiếng tăm lan truyền, đang ở tại Tịnh từ, Cư sĩ bèn đến đó thỉnh hỏi điểm cốt yếu vào đạo. Thiền sư Sở Minh bảo: “Việc này phải là từng niệm chẳng luống qua, lâu dần thuần tục, thời tiết đều nơi tự nhiên chứng nhập”. Và lại nêu cử câu thoại cây bách của Triệu Châu, khiến bảo Cư sĩ thường luôn cất nhắc. Trải qua thời gian lâu dài mà Cư sĩ không được tỉnh phát, bèn giã từ đến bái yết Thiền sư - Thiện Quyền, và hỏi: “Việc này mọi người đều có phần, mỗi mỗi đều viên thành, có phải vậy chăng?” Thiền sư đáp: “Ðúng Vậy”. Cư sĩ lại hỏi: “Vì gì tôi không có nơi vào?” Thiền sư lấy chuỗi hạt trong tay áo ra chỉ cho thấy và bảo: “Ðây là của ai?” Cư sĩ cứ cuối ngưỡng không trả lời. Thiền sư bỏ lại trong tay áo, tiếp bảo: “Nếu là của ông thì nắm lấy đi. Vừa mới giẫm trải tư duy tức là chẳng phải của ông”. Cư sĩ mịt mờ. Sau đó không bao lâu, lưu ở lại nơi quán nhà họ Tô, một đêm nọ đi đến nhà xí, đang giữ câu thoại cây bách mà nghiên cứu nghe tiếng cóc kêu bỗng nhiên Cư sĩ ngộ nhập, bèn có bài kệ tụng rằng: “Trời xuân đêm trăng một tiếng cóc, Ðánh nát càn khôn chung một nhà. Chánh lúc nghĩ gì ai hiểu được, Ðầu non chân đau có huyền sa”. Ðến sáng sớm, Cư sĩ đến bái yết Thiền sư Nhất - Pháp Ấn, cơ ngữ rất khế hợp. Vừa riêng kỵ đến am Minh tịnh cúng Tăng chủ Vân Thủy. Thiền sư Duy Thượng vừa thấy Cư sĩ đến mới chìa tay ra. Cư sĩ bèn hét. Thiền sư Duy Thượng đánh tát một cái vào má Cư sĩ. Cư sĩ bước tới phía trước. Thiền sư Duy Thượng bảo: “Trương Học Lục sao được phỉ báng Bát-nhã”. Cư sĩ đáp: “Chớ thấy của tôi chỉ như vậy. Hòa thượng lại làm sao sống?” Thiền sư Duy Thượng nêu cử câu thoại Mã Tổ lên giảng đường Bách Trượng cuốn chiếu mà cật nạn, nói chưa xong, Cư sĩ đẩy ngã chiếc án. Thiền sư Duy Thượng kêu lớn: “Trương Học Lục giết người”. Cư sĩ nhảy vọt dậy hỏi vị Tăng bên cạnh rằng: “Ông lại làm sao sống?” Vị Tăng ấy mịt mờ không trả lời. Cư sĩ bèn đánh vị Tăng ấy và ngó ngoáy lại Thiền sư Duy Thượng, bảo: “Tổ uế chẳng rõ ương lụy đến cháu con”. Thiền sư Duy Thượng cười lớn. Cư sĩ liền dâng bài kệ tụng rằng: “Nhân duyên cuốn chiếu cũng đại kỳ. Các khương nghe cử đều nhíu mày. Ðài bàn nhảy dậy, người sao tan, ngay kẻ đến sau chẳng chịu khinh”. Thiền sư Duy Thượng đáp: “Từ trước cao giá chẳng như vầy, trong trường trăm chiến đoạt hai mày. Ðoạt góc xung ải ông hiểu đó, tùng lâu ai dám lại cùng khinh”. Ðến năm Quý sửu (1133) thuộc niên hiệu Thiệu Hưng (1131- 1163) thời Nam Tống, Khôi đa sĩ lại đến bái yết Thiền sư Duy Thượng ở Ðông am. Thiền sư Duy Thượng bảo: “Viên giám ở Phù sơn nói”. Nếu Ông vào được thất Phần dương, mới đến cửa Phù sơn, cũng chưa thấy lão Tăng ở. Ông làm sao sống?” Cư sĩ quát mắng vị Tăng thị giả rằng: “Sao không trả lời?” Vị Tăng ấy mịt mờ. Cư sĩ đánh vị Tăng ấy một tát tai và bảo: “Ểnh ương trong hang quả nhiên chẳng biết giao long”. Ðến mùa Thu năm Ðinh Tỵ (1137) Thiền sư Ðại Tuệ - Tông Cảo đang đảm nhậm ở Kính sơn. Các hàng học giả kính ngưỡng như tinh đẩu. Cư sĩ đọc xem ngữ yếu của Thiền sư Ðại Tuệ mới tán thán rằng: “Thật là có người biết Tông môn”. Bèn mang đến trình với Thiền sư Duy Thượng, và nói là hận chưa được thấy gặp! Ðến lúc làm lễ Bộ thị lang, tình cờ Tham chính Lưu Công thỉnh mời Thiền sư Ðại Tuệ đến giảng pháp tại Thiên trúc, Cư sĩ tìm đến ba lần nhưng chẳng gặp. Kịp đến lúc Thiền sư Ðại Tuệ báo cho Cư sĩ vào bái yết nhưng chỉ hàn huyên mà thôi. Thiền sư Ðại Tuệ cũng thầm nhận biết về Cư sĩ. Sau đó vâng phụng từ về quê hương, đến Kính sơn cùng Phùng Cấp Sự và các Quan công bàn nghị cách vật Thiền sư Ðại Tuệ bảo: “Ông chỉ biết cách vật mà không biết có vật cách”. Cư sĩ bèn mịt mờ. Thiền sư Ðại Tuệ cười lớn. Cư sĩ hỏi: “Sư có khả năng mở dụ ư?” Thiền sư Ðại Tuệ bảo: “Há không thấy tiểu thuyết ghi, người thời nhà Ðường có kẻ cùng An Lục Sơn mưu phản ư? Người đó trước làm Lang thú có tượng họa vẫn hiện còn, Minh Hoàng đến đất Thục trông thấy đó mà tức giận, bảo Thị Thần rút kiếm đánh vào Ðầu tượng đó. Bấy giờ, Lang thú ở Thiểm tây, bỗng nhiên mà đầu rơi nơi đất”. Nghe thế Cư sĩ bèn lãnh hội yếu chỉ sâu mầu. Bèn viết bên vách hiên Bất động rằng: “Con rành cách vật, Diệu Hỷ (Ðại Tuệ) vật cách, muốn biết nhất quán, hai cái Ngũ Bá”. Thiền sư Ðại Tuệ mới ấn khả đó. Về sau, Cư sĩ đến trấn thú tại Thiệu dương, gặp lúc chịu tang thân phụ nên qua Kính sơn cúng dường Phạm tăng. Người cầm cân trong ý cho là Thiền sư Ðại Tuệ bàn nghị đến triều chánh, bèn đuổi Thiền sư Ðại Tuệ đến ở Hành Dương và ban lệnh bảo Cư sĩ về ở nhà mà thú nhận mình có tội và chịu hình phạt, khi hết hình phạt được an đặt ở Nam an, mùa Xuân năm Bính tý (1156), bèn được ân ban tha từ Bắc trở về, mà Thiền sư Ðại Tuệ cũng vừa đến, bèn cùng chung thuyền đàm luận Tông yếu, chẳng từng đề cặp đến việc đã qua. Theo trang “Tâm truyện lục” của người dòng họ Vu nói là: “(Vu) Hiến từ Lãnh hạ theo hầu đưa Cậu (Trương Cửu Thành) trở về Tân Cam, nhân gặp Thiền sư Ðại Tuệ. Cậu bảo Hiến lễ bái, Hiến trả lời: “Vốn không kính bái Chư Tăng”. Cậu bảo: “Cô của ngươi khấu đó”. Hiến biết Thiền sư Ðại Tuệ thường luôn cầm đọc kinh sách, bèn nêu cử ba câu “Thiên mạng gọi là tánh, suất tánh gọi là Ðạo, tu đạo gọi là giáo” trong “Trung Dung” của Tử Tư mà hỏi. Thiền sư Ðại Tuệ đáp: “Phàm người đã không biết bản mạng vốn Thần lạc xử, lại muốn lôi kéo người tốt vào hầm lửa. Cớ sao Thánh hiền đối với một trứ đánh đầu không đục phá?” Hiến hỏi: “Thầy của tôi có thể về Thánh hiền đục phá chăng?” Thiền sư Ðại Tuệ bảo: “Thiên mạng gọi là Tánh, tiện là tịnh pháp thân, suất tánh gọi là Ðạo, tiện là viên mãn Báo thân, tu đạo gọi là giáo, tiện là thiền bách ức hóa thân”. Nghe được vậy, Hiến bèn đem báo cùng cậu là: “Con kính bái, sao chối từ tiếp nối trấn?”. Ðến mùa Thu năm Ðinh sửu (1157) Cái Từ uổng phỏng hỏi Ðạo nơi Thiền sư Ðại Tuệ đang ở tại Dục vương. Qua năm sau, Thiền sư Ðại Tuệ có được sắc chỉ trở lại đảm nhận Kính sơn, ra mắt Cư sĩ tại viện Khánh thiện. Cư sĩ hỏi: “Trong mộng tôi thường đọc tụng nói mạnh là thế nào?” Thiền sư Ðại Tuệ nêu cử Viên Giác nói là: “Do ở nơi tĩnh lắng, nên tâm các Ðức Như Lai ở khắp mười phương thế giới hiểu hiện trong đó như ánh tượng trong gương” Cư sĩ nói: “Nếu chẳng phải Lão sư thì không sao nghe được điều luận này”. Và về bài tụng Tam quan của Hoàng Long là: “Tay ta sao tợ tay Phật. Nạp Tăng trong thiên hạ không miệng. Giả sử chọc dậy bèn đi, cũng là chạy trong hang quỹ, huý kỵ không được. Chân ta sao tợ chân Lừa, lại bị keo nhựa dính chắc, vụt thân nhảy lên trời đâu mất. Ðã là gặp gã chuột già kia vui thú như chẳng ra, người người có cái Duyên sinh, ở dưới núi Thiết vi mấy ngàn năm, tam tai thẳng đến trời Tứ thiền, con lừa ấy còn tự tại ở bên cạnh giết được công phu”. Cư sĩ luôn đặt để tâm với Lục độ, chẳng vì con cháu chấp lường, nhân lấy Thiện tri thức Hoa nghiêm, thường ngày cúng dường hai lần, dùng ăn cơm trung lưu. Lại từng cung dường mười sáu trời lớn, mà chén trà của các vị đều biến thành sữa. Viết kệ tụng rằng: “Kính lạy mười phương Phật pháp Tăng, cúi lạy hết thảy trời Hộ pháp. Con nay cúng dường Tam bảo và trời, như một giọt nước biển một sợi lông trâu. Có diệu thuật gì hay cảm cách thử mượn ý thức vì ông nói, tâm ta cùng Phật, trời không khác, một mảy trần mới nối đất trời cách biệt, thân như mây trần tiêu tánh giác viên tịnh, cho nên Phật trời đều giáng lâm. Ta muốn cúng Phật, Phật bèn hiện, Ta muốn cúng trời trời cũng hiện, Phật tử nếu hoặc sinh riêng nghi, thử hỏi sữa này từ đâu lại? Riêng nghi tức bụi trần, bụi trần tức nghi, trọn cùng Phật trời chẳng tương tợ. Nay ta cùng người quét riêng nghi, như nước sôi làm tan tuyết tợ lửa làm tiêu băng. Ngày nay người hơi có nghi và hoặc. Chim dao bèn đến nước Tân La”.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.