Tiểu Sử
Hành Trạng
6. Am chủ Tri Hòa ở Nhị linh. Am chủ Tri Hòa ở Nhị linh tại phủ Khánh nguyên, vốn người dòng họ Trương ở Ngọc phong - Tô đài. Thủa bé thơ, Sư thường tập ngồi thùy đường, nhà ấy bị sụp đổ, trong ý song thân cho rằng Sư hẳn bị chết, nhưng Sư vẫn nhắm mắt tự nhiên. Nhân đó cho phép Sư xuất gia, đủ tuổi, Sư được độ. Xong, Sư đến bái yết Lặc đàm. Thiền sư Càn trông thấy Sư mới hỏi làm gì? Sư phỏng định trả lời, Thiền sư Càn bèn đánh, lại quát hét mà bảo: “Ngươi gọi làm gì? Làm Thiền sư”. Chợt nhiên tỉnh ngộ yếu chỉ. Sư liền nói: “Thiền không trước không sau, biển lớn sóng lắng, trời xanh trăng in”. Lại hỏi: “Thế nào là Ðạo?” Sư đáp: “Ðạo bụi hồng mênh mông chẳng dùng an bài vấn không khuyết thiếu”. Thiền sư Càn bèn nín lặng đó. Sư lại đến bái yết Thiền sư Biệt ở Hành nhạc, Thiền sư Biện rất phù hợp mến trọng Sư. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Phù (1098-1101) thời Bắc Tống, Sư đến nói hai am Trung phong và Thê vân tại Tuyết đậu ẩn cư suốt hai mươi năm, Sư từng có làm kệ tụng rằng: “Tre gỗ vài ba thăng nước đồng, cửa tùng năm bảy mảnh mây trôi, cách sống Ðạo nhân chỉ như thế, để lại người đời làm thấy nghe”. Những người có chí đối với đạo phần nhiều đều đến trông xem đó. Có vị Tăng đến lễ bái, Sư bảo: “Gần đây xa lìa xứ nào?” Vị Tăng ấy đáp: “Thiên Ðồng”. Sư hỏi: “Núi Thái bạch cao bao nhiêu?” Vị Tăng ấy đưa tay sờ lên trán làm thế ngóng trông. Sư bảo: “Còn có cái ở đó”. Vị Tăng ấy thưa: “Tức xin am chủ nói”. Sư lìa đưa tay làm thế sờ trán. Vị Tăng ấy phỏng bàn nghị. Sư bèn đánh. Mới đầu, Sư hài hòa với Thiền sư Giao ở Thiên đồng hỏi Ðạo, lập lời thề rằng: “Ngày sau, hai chúng ta nên ở trên tuyệt đỉnh núi cao, mắt nhìn trời xanh, làm người ngoài đời, không nên làm người khuất dục tiết tháo, ý khí thấp hèn tên tuổi trong sổ bộ Quan phủ ngày nay vậy”. Về sau, Thiền sư Giao lỡ trái lời thề, đến nơi Sư nhưng Sư trọn chẳng tiếp. Chánh ngôn Trần Công dùng kế dụ Sư ra khỏi núi. Sư đến ở Nhị linh suốt thời gian ba mười năm không nuôi dưỡng vật gì ngoài hai con hổ theo hầu bên hữu Sư. Một ngày nọ ra oai đối với mọi người, Sư dùng kệ tụng mà sai sử nó. Ðến ngày 12 tháng 04 năm Tuyên Hòa thứ bảy (1125) thời Bắc Tống, Sư ngồi kiết già mà thị tịch. Chánh ngôn Trần Công tấu trình trạng văn trình bày hạnh thật của Sư. Lúc Sư thị tịch có điềm vết khác lạ rất rõ ràng bèn đắp họa tôn tượng Sư và hai con hổ theo hầu, đến nay vẫn hiện còn.
