Tiểu Sử
Hành Trạng
Hòa Thượng Tâm Khai Nhật Liên (1923 - 2010)
Chùa Long Thọ - Đồng Nai

Hòa thượng thế danh Diệp Quang Tiền, Pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình.
Năm lên 6 tuổi (1928), thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con.
Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt văn tại thôn Diên Sanh.
Năm 13 tuổi (1935) Ngài cùng anh trưởng, được sự đồng ý của song thân xin xuất gia với Hòa thượng Giác Nguyên, Trụ trì Chùa Tây Thiên Di Đà tại Huế. Hai anh em Ngài được Hòa thượng truyền thọ Tam quy Ngũ giới, đồng thời làm lễ thế độ xuất gia và cho Ngài Pháp danh: Tâm Khai, tự Thiện Giác.
Cùng năm 1935 này, phong trào chấn hưng Phật giáo đang lên cao. Tại miền Nam, có Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học, thành lập năm 1930, trụ sở đặt tại Chùa Linh Sơn - Sài gòn, và xuất bản tạp chí Từ Bi Âm. Tại Huế có Hội An Nam Phật học (sau này đổi tên là Hội Việt Nam Phật học), thành lập năm 1932, xuất bản nguyệt san Viên Âm, và mở trường Sơ đẳng Phật học tại Chùa Trúc Lâm, sau dời về Chùa Báo Quốc, Huế. Tại miền Bắc, có Bắc Kỳ Phật giáo hội , thành lập năm 1934, trụ sở đặt tại Chùa Quán Sứ, Hà Nội và xuất bản báo Đuốc Tuệ. Được xuất gia trong phong trào lịch sử đó, nên chỉ sau một thời gian ngắn nhập đạo, Ngài đã được Hòa thượng Bổn sư cho tòng học tại Sơ đẳng Phật học đường, do Hòa thượng Trí Độ làm Đốc giáo.
Năm 18 tuổi (1940), Ngài theo học tại Phật học đường Tây Thiên do Sơn môn Tăng-già Thừa Thiên Huế thành lập. Cùng năm Ngài được Hòa thượng Bổn sư cũng là Hòa thượng Đường đầu, truyền thọ giới Sa-di tại Chùa Tây Thiên.
Năm Ngài 22 tuổi (1944) sau khi tốt nghiệp tại Phật học đường Tây Thiên, Ngài được cử vào giảng dạy tại Thích học đường của Hội Lưỡng Xuyên Phật học tại tỉnh Trà Vinh.
Năm 24 tuổi (1946) Ngài trở về trú tại Chùa Long An thuộc liên thôn Xuân Yên-Nhan Biều, huyện Triệu Phong là ngôi Chùa của gia tộc. Ở đây, Ngài nhận lời mời của Tỉnh Hội Phật giáo Quảng Trị làm Giảng sư của Tỉnh hội. Đồng thời, Ngài cùng các vị trong Sơn môn Tăng-già Quảng Trị thành lập Phật học đường Quảng Trị đặt tại Chùa Long An.
Đầu năm 1947, vì chiến sự, Ngài phải về ẩn cư tại Chùa Diên Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Tại đây Ngài hoạt động đả phá Tổ chức Phật giáo Thiền Lữ, và cùng Huynh trưởng là thầy Thiện Liên hoạt động phục hồi Sơn môn Tăng-già Quảng Trị trước sự tổ chức rầm rộ, ồ ạt của phái Thiền Lữ.
Năm 28 tuổi (1950), Ngài rời Quảng Trị vào Huế ở tại Chùa Tây Thiên hầu cận Bổn sư, sau qua Chùa Linh Mụ giúp việc cho Hòa thượng Sư thúc, trông nom sinh hoạt của Chùa, vì Hòa thượng thường xuyên đi giảng dạy các trường Phật học tại miền Trung.
Trong lúc đó, Phật sự Phật giáo ở miền Nam đang bước đầu phát triển. Cuối năm, Ngài được phép của Bổn sư rời Huế vào Sài gòn hợp tác với quý Thầy ở Phật học đường Nam Việt. Ban đầu trụ sở đặt tại Chùa Sùng Đức - Chợ Lớn, sau dời về Chùa Ấn Quang - Sài gòn.
Nguyên ngôi Chùa Ấn Quang tên cũ là Ứng Quang do Hòa thượng Trí Hữu sáng lập và Hòa thượng đã phát nguyện cúng cho Quý Thầy ở 3 Phật học đường là Liên Hải - Mai Sơn - Ứng Quang và sau đó đổi tên Chùa Ứng Quang thành Ấn Quang theo ý nghĩa Tổ Ấn Trùng Quang.
Trong thời gian này, Ngài nhận làm Giáo thọ Phật học đường, các học Tăng do Ngài hướng dẫn lúc bấy giờ là các Hòa thượng : Từ Thông, Huyền Vi, Thiền Định, Thanh Từ ….
Cũng trong thời gian này, Ngài tham gia Hội Phật học Nam Việt (Chùa Xá Lợi) làm Cố vấn Ban Quản trị Trung Ương hội, kiêm chủ biên Tạp chí Từ Quang, cơ quan Hoằng pháp của Hội trong buổi đầu.
Năm 29 tuổi (1951), Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam họp tại Chùa Từ Đàm - Huế để thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Ngài là một trong số 51 vị Đại biểu Phật giáo toàn quốc và là một trong 7 thành viên của Phái đoàn Phật giáo Nam Việt.
Cùng năm đó, Ngài vận động thành lập Giáo hội Tăng-già Nam Việt và giữ chức vụ Tổng thư ký sáng lập Hội, trụ sở đặt tại Chùa Hưng Long, sau đó dời về Chùa Ấn Quang.
Năm 30 tuổi (1952) Ngài thọ Cụ túc giới, tại Giới đàn Chùa Ấn Quang, do Hòa thượng Đôn Hậu làm Đường đầu. Các Giới tử đồng thọ giới với Ngài lúc bấy giờ là Thầy Nhất Hạnh, Thầy Thiện Tấn (bào huynh của Thầy Nhất Hạnh), v. v…
Năm 31 tuổi (1953) Ngài vận động tổ chức Đại hội Tăng già Nam Việt; Đại hội được mở tại Chùa Ấn Quang, và lần đầu tiên có hơn 500 Tăng Ni và đông đảo đồng bào Phật tử khắp miền Nam tham dự. Đại hội suy tôn Hòa thượng Huệ Quang, nguyên Tổng lý Hội Lưỡng Xuyên Phật học Trà Vinh lên ngôi Pháp Chủ Phật giáo Nam Việt.
Năm 32 tuổi (1954) Ngài nghỉ việc tại Phật học đường Nam Việt; hai lần vân du sang Cao Miên, mở lớp bồi dưỡng Giáo lý và mở Khóa Huấn luyện Trú trì cho Tăng-già Việt kiều tại Chùa Kim Chương ở Nam Vang.
Năm 33 tuổi (1955) do thỉnh nguyện thư của vị Hội trưởng Vientiane Phật giáo hội (Hội Phật giáo Việt kiều) tại thủ đô nước Lào, ông Trịnh Văn Phú và Đại Đức Trú trì lâm thời Chùa Bàng Long - Vientiane vận động thu hồi ngôi Chùa Bàng Long đã bị người bản xứ chiếm 1945, gởi Giáo hội Tăng Già Trung Việt tại Huế, thỉnh cầu Giáo hội cử cho một vị Tăng-già đức độ đảm nhiệm Phật sự Phật giáo Việt Nam tại Lào. Ngài đã được Giáo hội cung cử ủy nhiệm đảm trách Phật sự quan trọng ấy. Tại Lào, Ngài được toàn thể Chư Tăng và Phật tử Việt kiều suy tôn lên ngôi Đạo Thống Phật giáo Việt Nam tại Lào, kiêm Trú trì Chùa Bàng Long.
Năm 38 tuổi (1960) với sự hợp lực của Hòa thượng Trung Quán, Ngài phát nguyện sùng tạo Chùa Bàng Long với quy mô rộng lớn, thành lập Phật học viện Huyền Quang, Ni bộ Đại thừa Phật giáo Việt Nam tại Chùa Bàng Long.
Do những hoạt động Phật sự của hệ thống Phật giáo Việt Nam tại Lào phát triển mạnh mẽ. Do những xung đột giữa nhiều thế lực thù địch và tình hình chiến tranh cục bộ đương thời, Ngài bị tình nghi là khuynh Cộng, hoạt động cho Cộng sản Việt Nam, nên Ngài đã bị chính quyền Lào trục xuất về Việt Nam với lý do an ninh quốc gia Lào, ngày 19/9/1969.
Tại Sài gòn, trong thời gian làm thủ tục hồi hương, thì ông Mai Thọ Truyền, Hội trưởng Hội Phật học Nam Việt mời Ngài về lưu trú tại Chùa Xá Lợi.
Năm 48 tuổi (1970) Ngài đảm nhiệm ngôi Chùa cổ Văn Thánh tại Thị Nghè- Gia Định, do Hòa thượng Tuệ Đăng chuyển cúng. Ngôi Chùa được thành lập năm 1906 . Ngài trú tại đây, rồi ra công chỉnh trang, tu sửa, thay đổi cách bài trí, biến nơi đây thành ngôi Già Lam thanh tịnh trang nghiêm.
Năm 53 tuổi (1975), Tỉnh Giáo hội Long Khánh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, gởi văn thư lên Viện Hóa Đạo, nhờ giới thiệu cho một vị về làm Trú trì Chùa Tỉnh Giáo hội. Viện đã quyết định cử Ngài đảm nhiệm chức vụ Chứng minh kiêm phụ trách Chùa Tỉnh Giáo hội Long Khánh ngày 15/01/1975.
Năm 1979, Ngài trở về Tổ đình Chùa Tây Thiên ở Huế để cư tang Hòa thượng Bổn sư. Sau tang lễ, Hội đồng môn phái đã họp cử Ngài làm Trụ trì Tổ đình Tây Thiên Huế. Song Ngài giao lại cho Pháp điệt coi sóc, rồi trở vào Long Khánh tiếp tục hoằng hóa độ sinh.
Năm 1992, Ngài trở về Cố đô Huế để hầu hạ Sư thúc và cũng là Thúc phụ, là Hòa thượng Đôn Hậu, Trú trì Chùa Linh Mụ Huế, lâm trọng bệnh cho đến khi Viên tịch.
Sau lễ tang, Ngài trở vào Chùa Long Thọ thì bị đột quỵ bởi cơn tai biến mạch máu não. Nhờ sự tận tâm cứu chữa của bệnh viện và sự ân cần chăm sóc của Môn đồ và Chư Tăng, Ni, Phật tử nên bệnh tình của Ngài dần dần thuyên giảm.
Ngài 71 tuổi (1993), Ngài cố gắng vận động tổ chức Lễ đặt đá, xây dựng Ngôi Tam bảo, nhằm ngày Vía Đức Bồ-tát Quán Thế Âm.
Từ sau 73 đến 77 tuổi (1995 - 1999), Ngài tiếp tục tiến hành xây đúc tiền sảnh và hai lầu chuông trống của Chùa mở rộng và chỉnh trang sân chùa, di dời 3 pho tượng Tây phương Tam Thánh (A Di Đà - Quán Thế Âm - Đại Thế Chí). Năm (1998) Ngài về Sài gòn, tu sửa Chùa Văn Thánh và tái chỉnh sự Thờ tự trong Chùa và vận động đúc Đại Hồng Chung, làm Pháp Bảo thường trụ, và để kỷ niệm nơi Già Lam thắng địa. Lễ rót đồng được tổ chức trọng thể ngày 16/10 năm Kỷ Mão nhằm ngày 23/11/1999. Hồng Chung cao 2,20m nặng 1.400 kg.
Năm 78 tuổi, Ngài giao công việc Chùa cho Ban Quản trị và Ban Hộ trì Tam Bảo, rồi chuyên tâm nghiêm mật hành trì Thần Chú Đại Bi và Niệm Phật Tam Muội.
Những ngày tháng cuối đời 1972, Ngài trở về thăm ngôi Chùa của gia tộc, và mẹ già đang bị bệnh lập Đàn Dược Sư 108 ngày bái sám để cầu nguyện cho mẹ được bình phục.
Những tưởng Ngài mãi là ngọn hải đăng chiếu soi, để dẫn dắt hàng đệ tử tấn tu trên con đường phụng sự đạo pháp, hóa độ chúng sanh, nào ngờ, duyên trần đã mãn, Ngài an nhiên niệm Phật đi vào cõi tĩnh lặng Niết Bàn vào lúc : 17.00 giờ, ngày 08 tháng 01 năm 2010 (nhằm ngày 24/11/ Kỷ Sửu) tại Chùa Long Thọ, tỉnh Đồng Nai.
Ngài trụ thế 87 tuổi, 59 Hạ lạp, Tháp của Ngài được tôn trí trong khuôn viên chùa Long Thọ.
