Tiểu Sử
|
|||
| Danh Tánh | HT Chơn An Chánh Liêm - Ðời Thứ 40 Tông Lâm Tế -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1938 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | HT Ngộ Tánh Phước Huệ - Ðời Thứ 39 Tông Lâm Tế | ||
| Đồng Môn | ♂️ HT Trừng Dàn Bích Không - Ðời Thứ 40 Tông Lâm Tế, ♂️ HT Chân Đạo Bích Phong- Ðời Thứ 40 Tông Lâm Tế, ♂️ HT Chơn Thanh Bích Nguyên, ♂️ HT Chơn Phú Bích Lâm - Ðời Thứ 40 Tông Lâm Tế | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 2008 |
Hành Trạng
Hòa Thượng Chơn An Chánh Liêm (1938 - 2008)
Chùa Tỉnh hội Phật học Quảng Trị

Hòa thượng họ Nguyễn, húy Văn Trú (tức Triết), sinh năm Mậu Dần (1938), tại làng Đạo Đầu, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Diên Đình, thân mẫu là cụ bà Hồng Thị Lịch, kế mẫu là cụ bà Phan Thị Lan. Hòa thượng là người con thứ tư trong gia đình có 8 anh chị em. Thân mẫu mất sớm, Hòa thượng lớn lên trong sự đùm bọc thương yêu của thân phụ, kế mẫu và các anh chị.
Từ nhỏ, Hòa thượng đã sớm kết duyên lành với chốn thiền môn qua những đêm theo thân phụ và dân làng lên chùa lễ Phật tụng kinh, lớn lên lại có cơ duyên gần gũi với những bậc Cao Tăng thạc đức khi các ngài về đây vân du hóa đạo. Nhờ đó, tâm Bồ-đề càng được tô bồi theo từng lời kinh tiếng kệ, chí xuất trần càng được hun đúc vững bền qua từng năm tháng.
Năm 21 tuổi (1958), Hòa thượng xin phép thân phụ, giả từ cuộc sống gia đình vào Thuận Hóa tầm sư học đạo. Cơ duyên hội ngộ, Hòa thượng gặp được cố Đại lão Hòa thượng Phước Huệ, tổ khai sơn Tổ đình Hải Đức - Huế mở rộng cửa thiền, thâu làm đệ tử.
Với tư chất mẫn tiệp, bản tính nhu hòa, chỉ sau hai năm hành điệu, Hòa thượng được Bổn sư thế độ trở thành Sa-di, với Pháp danh Chơn An, tự Chánh Liêm. Kể từ đó, Hòa thượng được Bổn sư gửi về nội trú tại Phật học viện Báo Quốc.
Năm 1965, chốn Tổ Từ Hiếu khai Đại giới đàn Vạn Hạnh, do Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm đàn đầu, Hòa thượng đã được Bổn sư thọ Cụ túc giới.
Năm 1967, tức chỉ sau hai năm thọ Đại giới, Hòa thượng được Giáo hội cử về Quảng Trị đảm nhiệm chức vụ Đặc ủy thanh niên, kiêm nhiệm giảng dạy giáo lý tại trường Bồ-Đề thị xã Quảng Trị.
Năm 1969, Hòa thượng được Ban Đại diện Phật giáo Quảng Trị bổ nhiệm Trú trì chùa Tỉnh Hội Phật học Quảng Trị.
Năm 1972, chiến tranh ác liệt lại xảy ra trên mảnh đất này, cũng như bao nhà dân tại thị xã Quảng Trị, chùa Tỉnh Hội và trường Bồ Đề đều bị đổ nát, Hòa thượng phải cùng bà con Phật tử đi sơ tán. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, theo chân Hòa thượng Chánh Trực, Hòa thượng lại quay về Quảng Trị “bám đất giữ làng”, dựng am tranh trên vùng đất Chiêu linh đài ở tạm, đợi ngày bà con Phật tử trở về.
Năm 1975, Hòa thượng được Giáo hội cử về Trú trì chùa Châu Quang (Đông Hà). Và kể từ đây, hưởng ứng lời kêu gọi của Hòa thượng Chánh Trực, Chánh Đại diện Phật giáo tỉnh Quảng Trị, Hòa thượng đã tích cực tham gia Ban vận động tái thiết chùa Tỉnh hội Phật học Quảng Trị.
Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, Hòa thượng được Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình-Trị-Thiên cử giữ chức vụ Phó Đại diện Phật giáo huyện Triệu Hải, phụ trách công tác Phật sự tại các vùng Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa và thị xã Đông Hà.
Năm 1990, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Trị thành lập, Hòa thượng được cung cử giữ chức vụ Phó Trưởng ban thường trực Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Trị.
Năm 1992, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IV, Hòa thượng được Đại hội tấn phong giáo phẩm Thượng tọa.
Năm 1996, Hòa thượng được Trung ương Giáo hội cung cử vào Ủy viên Hội Đồng Trị Sự, và đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Trị kể từ năm 1996 đến nay.
Năm 1997, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ V, Hòa thượng được Đại hội chính thức suy tôn lên hàng giáo phẩm Hòa thượng. Và cũng trong năm này, theo lời thỉnh nguyện của Tăng Ni, Phật tử đồng hương Quảng Trị, Hòa thượng đã đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban tái thiết Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang, một ngôi cổ tự đã ghi dấu sự hiện diện đầu tiên của Phật giáo trên quê hương Quảng Trị.
Hòa thượng còn là Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, ủy viên Ban chấp hành Hội khuyến học tỉnh Quảng Trị trong suốt nhiều nhiệm kỳ.
Năm 1988, Hòa thượng sáng lập Hải Đức Sơn Tự tại phường Đông Lương, thị xã Đông Hà.
Năm 2004, Hòa thượng đã cho khởi công xây dựng “Vạn Phật Tháp”, một ngôi tháp bảy tầng thờ Phật trên một quả đồi gần đó, tạo nên một cảnh quan thiêng liêng, hài hòa giữa vùng núi đồi ở phía Tây Nam thị xã Đông Hà.
Năm 1990, Hòa thượng đã mua lại nương rẫy của một Phật tử tại làng Đại An để làm nơi canh tác, nhằm đảm bảo lương thực cho việc tiếp tăng độ chúng, và đã cho dựng tại đây một ngôi thảo am nhỏ thờ Phật.
Ngôi thảo am này chính là tiền thân của chùa Đại An hiện nay, một ngôi phạm vũ uy nghi vừa được Hòa thượng cho khởi công xây dựng vào năm 2007, hiện tọa lạc trên đường Hùng Vương (nối dài), thuộc phường 5, Thị xã Đông Hà. Chùa Đại An là tâm nguyện một đời của Hòa thượng. Ngôi chùa đã hồn thành. Và Hòa thượng đã mỉm cười nhẹ gót ra đi.
Khi thấy tình hình sức khỏe đã giảm sút, biết ngày thuận thế vô thường còn không xa, Hòa thượng đã trở về chốn tổ tại Tổ đình Hải Đức (Huế) ở lại gần một tháng trời, để hôm sớm được thân cận, lễ bái bên linh ảnh cố Hòa thượng Bổn sư.
Hòa thượng còn về dâng hương đỉnh lễ chư tổ tại Tổ đình Báo Quốc, nơi Hòa thượng đã từng gắn bó trong suốt những năm tháng học đạo; đến Tổ đình Từ Đàm dâng hương lễ bái cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu, vị thạch trụ tùng lâm của đất Thuận Hóa mà ngài đã thọ ân giáo giáo dưỡng; lên chùa Lam Sơn hầu thăm Hòa thượng Đức Phương, Trưởng Ban trị sự và là vị thầy giảng dạy giáo lý trong những năm Hòa thượng còn theo học tại trường Bồ Đề Hàm Long; vấn an Ni trưởng Cát Tường tại Tịnh thất Hồng Mai.
Và chỉ một hôm trước ngày viên tịch, mặc dù sức khỏe đã yếu nhưng Hòa thượng vẫn cùng các đệ tử trở về thăm quê hương lần cuối tại làng Đạo Đầu, ân cần khuyến tấn bà con Phật tử, thắp hương trước mộ phần của song thân.
Trước lúc viên tịch, Hòa thượng luôn dặn dò các đệ tử: “Sau khi thầy đi rồi các con phải tôn kính và nương tựa vào các bậc tôn túc, anh em phải gắng bảo ban nhau để cùng tu tập”.
22 giờ ngày 11 tháng 11 năm Mậu Tý (tức nhằm ngày 7 tháng 12 năm 2008), sau khi đàm đạo cùng môn đồ và các Phật tử, Hòa thượng trở về thiền thất và đã an nhiên thu thần thị tịch, trụ thế 71 năm, với 44 hạ lạp.
