HT Nguyên Cao Mãn Giác

Tiểu Sử

Danh Tánh HT Nguyên Cao Mãn Giác - Ðời Thứ 44 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 10 Dòng Lâm Tế Liễu Quán -
Sanh#1Năm Sanh1929
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápHT Tâm Thông Quảng Huệ - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Đồng Môn ♂️ HT Nguyên Tín Châu Đức
Tịch#1Viên Tịch2006

Hành Trạng

Hòa Thượng Nguyên Cao Mãn Giác (1929 - 2006)
 Chùa Việt Nam tại Mỹ

Hòa thượng Mãn Giác pháp danh Nguyên Cao, đạo hiệu Huyền Không;  thế danh Võ Viết Tín, sinh năm Kỷ Tỵ, 1929 tại cố đô Huế, trong một gia đình mà Nội Ngoại đều tin Phật và nhiều nguời trong thân quyến đã có duyên xuất gia và nổi tiếng thân danh trên đường tác thành Phật sự. Cố đô Huế chỉ là sinh quán, còn nguyên quán thuộc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Sau khi học xong chương trình Tiểu Học Yếu Lược và được lên Lớp Nhì Nhứt Niên, tuổi đời mới lên 10, Hòa thượng Thích Trí Thủ là người anh cô cậu ruột đã có duyên xuất gia từ trước, đã hướng dẫn người em gửi gắm đến với Hòa thượng Thích Quảng Huệ, Trú trì chùa Thiên Minh Huế cho nhập đạo tu hành.
Năm 16 tuổi, nhằm quý niên Giáp Thân, 1944, Hòa thượng được Thế độ thọ giới Sa Di, pháp danh Nguyên Cao, tự Thích Mãn Giác, đạo hiệu Huyền Không tại chùa Thiên Minh và sau đó được thọ giới chính thức tại Giới Đàn Thuyền Tôn do Đại Lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Đường đầu Hòa thượng, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Yết Ma, Hòa thượng Thích Đắc Quang (Chùa Quốc Ân) làm Giáo Thọ. Trong Giới đàn này, Thiền sư Thích Mật Thể đỗ Thủ Sa Di, Thích Trí Quả làm Vỹ Sa Di và Sư Bà Thích Nữ Diệu Không cũng được nhận Đại Giới Tỳ Kheo Ni.
Năm Kỷ Sửu, 1949, cùng với học tăng cùng học chương trình Đại học Phật giáo tại Phật học đường Báo Quốc được tiếp nhận giới bổn Tỳ kheo trong Đại giới đàn do Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đường đầu, Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Yết Ma, Hòa thượng Thích Vĩnh Thừa (Châu Lâm) làm Giáo Thọ. Giới đàn này quy tụ các học chúng ưu tú mà sau này trở thành các nhân sự lãnh đạo Phật giáo tiếng tăm: Hòa thượng Thích Thiện Siêu làm Thủ Sa-Di, Hòa thượng Thích Thiện Minh làm Vỹ Sa-di đã lèo lái con thuyền Phật giáo Việt Nam vượt qua nhiều cơn giông bão. Cùng thọ giới với Hòa thượng năm này còn có các vị thạc đức tha thiết hoạt động trong lãnh vực văn hóa giáo dục sau này như Hòa thượng Thiên Ân, Hòa thượng Đức Tâm... là những vị đã từng học và đã đồng tốt nghiệp chương trình Đại học Phật giáo niên khố 1951-1952 trên Hàm Long Sơn, Huế.
Năm 1950, Canh Dần, sau lễ Chung Thất của Ngài Bổn sư vừa viên tịch, Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nguyên, Trưởng Pháp Phái, đã chiếu tập Chư Sơn Giáo Hội Huế, Hòa thượng Thích Quảng Nhuận, Trú trì Tổ đình Từ Quang, huynh đệ trong cùng môn phái Thiên Minh như Thích Châu Phong (Nguyễn Phương Danh), Thích Châu Ninh, Thích Châu Sơn, Thích Châu Đức, Thích Nữ Diệu Âm... hội họp và truy cử Hòa thượng giữ chức vụ Trú trì chùa Thiên Minh để tiếp tục nối dòng Pháp Phái.
Từ năm 1954, Sơn Môn Huế và Hội Phật học Trung Phần công cử Hòa thượng đến làm giảng sư tại Đà Lạt, vài năm sau kiêm nhiệm chức vụ Hội trưởng Hội Phật giáo Đà Lạt, Đại diện Hội Phật giáo Cao Nguyên Trung Phần. Đây là những năm tháng gắn bó với Phật sự, dấu chân hoằng pháp in đậm trên mọi miền và đem lại rất nhiều an ủi cho quần chúng tin Phật đang bị thử thách nguy cơ đàn áp và lôi cuốn đổi đạo của chính quyền.
Năm 1960, được đi du học Nhật Bổn, được tiếp xúc miền đất Thiền học hưng thịnh và được thở hương Đạo mặn mà ủ kín nơi những bài thơ Hài Cú tài hoa và dưới những cánh hoa anh đào rực rỡ.
Cuối năm 1965, sau khi tốt nghiệp Tiến Sĩ, Bộ Giáo Dục VNCH chính thức mời về giảng dạy tại ĐH Văn Khoa Sài Gòn và Huế qua bộ môn Triết Học Ấn Độ và Trung Hoa. Đây cũng là thời gian mà Hòa thượng thực sự dấn thân vào các hoạt động văn hóa, giáo dục, nhằm giải tỏa và vô hiệu hóa những xuyên tạc ngộ nhận đối xử bất công đối với văn học và Phật giáo nói chung.
Cũng trong năm này, 1965, Hòa thượng bắt đầu cộng tác chặt chẽ với Viện Đại Học Vạn Hạnh. (Viện Đại Học dân lập đầu tiên của Phật giáo) do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Viện trưởng, Hòa thượng đóng vai trò Khoa trưởng Phân khoa Phật học và Triết học Đông Phương. Và trong vài năm sau đó, Ngài giữ chức Phó Viện trưởng Điều hành Viện Đại học Vạn hạnh cho tới ngày miền Nam sụp đổ (1975) và Viện Đại học Vạn hạnh bị sử dụng làm cơ sở nhà nước.
Từ ngày về nước, một mặt, Hòa thượng hoạt động trong môi trường văn hóa giáo dục của Đời lẫn Đạo, mặt khác còn dấn thân tích cực trong các Phật sự của Giáo hội. Những vai trò mà Ngài từng đảm trách với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất như:
Quyền Tổng Vụ Trưởng Thanh Niên (Tổ Chức Đại Hội Thanh Niên Toàn quốc)
Tổng Vụ Trưởng Văn Hóa (Tổ Chức Đại Hội Văn Hóa Toàn quốc)
Trưởng Ban Tổ Chức nhiều năm Đại Lễ Phật Đản trọng thể.
Từ năm 1977, Ngài chính thức định cư tại Hoa Kỳ, Viện chủ chùa Việt Nam tại Los Angeles và là Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, một tập hợp gồm nhiều Chùa, Hội Phật giáo Việt Nam trải khắp đất nước Hoa Kỳ. Trong cương vị Hội chủ, với hơn 25 năm hành đạo trên đất mới, tâm niệm và hành tác như trọn đời vẫn là hướng về chăm lo cho chùa Tổ ở quê nhà, tiếp dẫn hậu lai nơi hải ngoại. Những việc cần làm sẽ và đã làm xong, cuối đời, lòng bình an thảnh thơi như mây trắng.
Hòa thượng Mãn Giác, qua đạo hiệu Huyền Không là một hồn thơ Đạo. Tiếng thơ rộn rã trong hơn một ngàn bài gói trọn tâm hồn và gương mặt tác giả thu được gồm 5 tập:  Không bến hạn, Hương Trần Gian, Không Gian Thành Chiếc Áo, Kẻ Lữ Hành Cô Độc, Mây Trắng Thong Dong.
Ngoài ra, về phương diện trước tác, sáng tác, phiên dịch, biên soạn... Ngài còn để lại trên 20 cuốn sách giá trị cho nhiều đối tượng người đọc khác nhau. Đi vào khu rừng nhận thức trù phú ấy, người ta có thể tha hồ gặt hái những nụ đẹp cành mềm, những hương và những sắc nồng nàn mà lý tưởng một đời của người mài miệt trồng rừng là chỉ làm đẹp đời sống văn hóa, làm đẹp tâm hồn con người.
Hòa thượng Mãn Giác thường trú tại chùa Việt Nam ở Los Angeles. Thỉnh thoảng, còn làm thơ, viết văn, dịch sách...  như là một dáng đẹp những ngày cuối đời.
Vào đầu tháng 8 năm 2006, Hòa thượng cảm thấy pháp thể khiếm an, mặc dù được các hàng đệ tử, các y, bác sĩ tận tình chăm sóc chữa trị, nhưng vì tuổi cao sức yếu, Ngài đã không qua khỏi.
Ngài đã an tường xả báo thân lúc 07 giờ 55 sáng tại chùa Việt Nam, Los Angeles, California, ngày 13 tháng 10 năm 2006. Thọ thế 77 tuổi đời, 57 pháp lạp.

---o0o---
NHỚ NGƯỜI
(Kỷ niệm lễ Đại tường cố Hòa thượng Thiên Ân)

Trầm hương thoáng lại từ lâu
Lòng nghe tất cả tiếng cầu nguyện xưa
Chuông ngân vọng đến bao giờ
Lá vàng rụng xuống thành thơ nhớ người

Về đâu  những lá hoa rơi
Vườn xưa, lối cũ bóng Người quanh đây
Tháp Chuông vẫn ở chỗ này
Đổi thay thay đổi trong ngây ngất buồn

Ai về giữa bóng hoàng hôn
Để nghe xao xuyến mãi dồn dập đau
Nhớ thương xin giữ trọn màu
Đạo tình muôn thuở mai sau vẫn còn

Ngày xưa vốn nghiệp cô đơn
Đầu thai hóa bướm bay vờn lá hoa
Trong cơn mộng mị Ta Bà
Tiếng chuông gợi nhớ âm ba thuở nào

Chiều về lay giấc chiêm bao
Tỉnh ra mới biết rằng sao sáng hoài
Chiều nay ai đến thăm ai
Lá vàng rụng xuống nằm dài lối đi

Mai sau còn có nghĩa gì
Đốt lò hương nguyện xin ghi tâm này
" Sắc không tự tại" nào hay
Trần gian còn đợi bàn tay độ người
Los Angeles, cuối tháng 11 năm 1982
Huyền Không

This entry was posted in . Bookmark the permalink.