HT Tâm Nhất Mật Thể

Tiểu Sử

Danh Tánh HT Tâm Nhất Mật Thể - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán -
Sanh#1Năm Sanh1912
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápHT Trừng Thành Giác Tiên - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Đồng Môn ♂️ HT Tâm Địa Mật Khế, ♂️ 0-HT Tâm Chơn Mật Tín, ♂️ HT Tâm Như Mật Nguyện, ♀️ Ni Trưởng Trừng Diên Diệu Huệ, ♂️ Cư Sĩ Tâm Hòa Trương Xướng, ♂️ HT Tâm Hương Mật Hiển - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♀️ Ni Trưởng Trừng Hảo Diệu Không - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Tâm Thanh Tịch Tràng - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ HT Nguyên Trí Châu Toàn
Tịch#1Viên Tịch1961

Hành Trạng

Hòa thượng Tâm Nhất Mật Thể (1912 - 1961)
Chùa Phổ Quang - Huế

Hòa thượng thế danh là Nguyễn Hữu Thể, sinh năm 1912 tại Nguyệt Biều, Hương Thủy, Thừa Thiên. Nguyên quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý bên ngoại của vua - cụ Nguyễn Hữu Độ - gia đình nhiều đời theo Phật, cụ thân sinh và người anh đều xuất gia.
Thuở nhỏ theo học chữ Nho, quốc ngữ và chữ Pháp đến đỗ bằng Primaire.
Năm 12 tuổi (1924) Ngài được thân phụ dẫn về chùa Diệu Hỷ - do Hoằng Hóa Quận Vương lập, phía sau chùa Diệu Đế - cho tu học hằng ngày; bản chất thông minh nên học hành và tiếp thu Kinh điển rất mau chóng.
Năm lên 16 tuổi (1928) Hòa thượng nhập chúng ở chùa Từ Quang với ngài Giác Bổn - là trụ sở đầu tiên của Hội An Nam Phật Học - Hòa thượng là người có chí khí và nhiều tài năng nên việc học đã phát triển rất nhanh chóng. Nhận thấy khả năng học tập xuất chúng nên Hòa thượng Giác Bổn cho Ngài vào học ở chùa Trúc Lâm với Hòa thượng Giác Tiên. Khi học ở Trúc Lâm, như cá gặp nước, rồng gặp mây, Ngài học vượt xa chúng bạn.
Năm 1930, Ngài được Hòa thượng Giác Tiên thế độ cho thọ Sa-di giới, Pháp danh Tâm Nhất tự Mật Thể.
Năm lên 20 tuổi (1932), tại chùa Trúc Lâm khai mở lớp Cao đẳng Phật học đường, Hòa thượng Phước Huệ ở chùa Thập Tháp_Bình Định được thỉnh giảng lớp này, Hòa thượng được theo học trong một năm.
Năm 1933, Ngài được mời làm giảng sư Hội An Nam Phật học, đồng thời vâng lệnh Bổn sư mở lớp Tiểu học Sơn Môn tại Chùa Ông (nay là Khuôn hội Thuận Hóa) và phụ trách giảng dạy ở đây cho đến năm 1936.
Năm trước đó (1935), Ngài được 24 tuổi, Bổn sư viên tịch và Hòa thượng Phước Huệ trở về Bình Định, Ngài xin các Sư huynh Mật Hiển, Mật Nguyện để sang Phật học Viện Tiêu Sơn (Trung Quốc) do Hòa thượng Tinh Nghiêm quản đốc, để nghiên cứu tu học.
Năm 1938, Ngài trở về nước tiếp tục làm giảng sư cho Hội An Nam Phật Học và trong thời gian này Ngài đã trước tác cuốn Việt Nam Phật Giáo sử lược.
Năm 1941, Ngài cho xuất bản cuốn “Phật giáo yếu lược” và “Phật giáo khái luận”.Cũng năm này, Ngài vào Nam giảng dạy tại Phật học đường Lưỡng Xuyên Trà Vinh.
Năm 1942, Ngài lại xuất bản tác phẩm “Vô lượng nghĩa và Xuân đạo lý”.
Rồi vào năm 1943, Ngài xuất bản “Việt Nam Phật giáo sử lược” với bài tựa của Trần văn Giáp và lời đầu của Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp.
Năm 1944, lúc được 32 tuổi, Ngài thọ Cụ túc giới tại giới đàn Thuyền Tôn do Hòa thượng Giác Nhiên làm Đàn đầu, Ngài là vị thủ Sa-di trong giới đàn này.
Năm 1944, 1945 Hòa thượng được cử giữ chức Trú trì chùa Phổ Quang.
Tháng giêng năm 1946, Hòa thượng đã tham gia vào công tác xã hội bằng cách ra ứng cử vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và sau đó được chuyển ra Bắc tiếp tục sinh hoạt.
Hòa thượng viên tịch năm 1961 tại Nghệ An, thọ 50 tuổi đời và đã để lại nhiều tác phẩm giá trị cho Phật giáo Việt Nam.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.