HT Tâm Minh Chơn Thiệt

Tiểu Sử

Danh Tánh HT Tâm Minh Chơn Thiệt -
Sanh#1Năm Sanh1906
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápHT Trừng Thông Tịnh Khiết - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Đồng Môn ♂️ HT Tâm Nguyện Tiêu Diêu, ♂️ HT Như Quý Viên Thiện - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ ĐĐ Tâm Kiên Chơn Thể, ♂️ HT Tâm Thành Chơn Thức, ♂️ HT Tâm Quang Chánh Pháp - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Tâm Thanh Chơn Hiền - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♀️ Ni Trưởng Tâm Quang Đàm Minh - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Tịch#1Viên Tịch1972

Hành Trạng

Hòa thượng Tâm Minh Chơn Thiệt (1906 - 1972)
Chùa Tường Vân - Huế

Hòa thượng tên thật là Võ Văn Cang, sinh ngày 21 tháng 9 năm Bính Ngọ (1906) tại tổng An Cựu, làng Công Lương, huyện Hương Thủy, tỉnh Bình Trị Thiên (nay là xã Thúy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế).
Hòa thượng sinh ra trong một gia đình có tính tâm với Tam Bảo. Thân phụ là cụ ông Võ Đề và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Bồng. Gia đình có 7 anh em, 4 trai 3 gái mà Hòa thượng là con trai trưởng.
Bẩm sinh Hòa thượng có tư chất thông minh, lại là người con rất có hiếu với cha mẹ. Thưở nhỏ thường hay theo mẹ đến chùa Làng nghe tụng kinh. Có lẻ do duyên từ nhiều đời kiếp trước nên từ đó Hòa thượng đã xin phép song thân đến chùa xinh xuất gia.
Năm Canh Thân (1920) lúc ấy Hòa thượng được 14 tuổi, được cha mẹ dẫn đến chùa Tường Vân xin xuất gia với Hòa thượng Tịnh Khiết, Bấy giờ là Trụ trì chùa Tường Vân và được Hòa thượng chấp nhận.
Ở chùa qua 4 năm hành Điệu theo luật nhà Phật, Hòa thượng đã thuộc lòng 4 cuốn Luật và 2 thời công phu. Nhận thấy đệ tử của mình đã vượt qua được thử thách ban đầu trong bước đầu tập sự nên Hòa thượng Bổn sư quyết định cho thọ giới Sa-di vào ngày 15 tháng 5 năm Giáp Tý (1924) và ban cho Pháp danh là Tâm Minh, Pháp tự Chơn Thiệt, đây là đệ tử đầu ( tức Trưởng Pháp tử) của Hòa thượng Tịnh Khiết.
Sau một thời gian theo chúng học hỏi, hành trì Giới luật và Kinh kệ hôm mai đầy đủ, có đủ tư cách đứng trong hàng ngủ đệ tử của Phật, nên năm 1926 được Hòa thượng Bổn sư quyết định cho thọ Đại giới. Giới Đàn được mở ra tại chùa Pháp Lâm - Quảng Nam, Hòa thượng đã gửi Sa-di Tâm Minh vào thọ Đại giới ở đây, lúc ấy là Tỷ-kheo Tâm Minh vừa tròn 20 tuổi đúng luật nhà Phật cho phép họ Đại giới.
Khi thọ Đại giới xong, một thời gian sau, về chùa phụ giúp Bổn sư các Phật sự trong chùa, Hòa thượng Bổn sư quyết định giao việc trong chùa cho đệ tử của mình là Tỷ-kheo Chơn Thiệt với chức vụ là Tri sự Tổ đình.
Tri sự Chơn Thiệt đảm nhận Tri sự lúc này là một gánh nặng vì kinh tế nhà chùa không có tài sản nhất định mà chỉ dựa vào sự cúng dường của Đàn-na tín thí. Do vậy, Tri sự Chơn Thiệt, phải xoay sở sao cho có đủ lương thực để nuôi Tăng chúng. Ngoài việc lo ẩm thực cho chư Tăng. Tri sự còn phải lo tiếp Tăng độ chúng giúp Bổn sư rảnh rổi để lo việc cho Hội Phật học; Tri sự Chơn Thiệt đã làm tốt vai trò của mình.
Tri sự Chơn Thiệt được mọi người thương mến, vì trong sự tu hành Hòa thượng Chơn thiệt siêng năng Kinh kệ, sách tấn Đại chúng tu tập không để trễ nãi. Vì vậy rất được Bổn sư tin cậy.
Tuy nhiên, như đèn gần tắt vì hết dầu, thời gian đã bào mòn cơ thể, nên Hòa thượng đã lâm trọng bệnh và đã xả báo thân vào ngày 24 tháng 2 năm Nhâm Tý (1972), Trụ thế 66 tuổi với 46 Hạ lạp. Tháp của Hòa thượng Chơn Thiệt được anh táng tại khuôn viên nghĩa trang Tổ đình Tường Vân gần chùa Từ Hiếu, nay thuộc đường Lê Ngô Cát, phường Thủy Xuân, Thành Phố Huế.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.