Tiểu Sử
Hành Trạng
Hòa thượng Tâm Thông Quảng Huệ (1903 - 1950)
Chùa Thiên Minh - Huế

Hòa thượng thế danh là Nguyễn Quảng Huệ, sinh năm Giáp Thìn (1903) tại làng Khuông Phò, Quảng Điền, Thừa Thiên; nhưng nguyên quán ở Bình Định.
Ngài xuất gia ở chùa Từ Quang - Huế, thờ Hòa thượng Giác Bổn làm Thầy. Năm Giáp Tý (1924) được Bổn sư thế độ cho Pháp danh Tâm Thông, hiệu Quảng Huệ; đến tháng 6 năm đó được thọ Cụ túc giới với Hòa thượng Tâm Tịnh ở giới đàn Từ Hiếu.
Năm Canh Ngọ (1930), Ngài được cử làm Trú trì chùa Thiên Minh - tọa lạc tại ấp Bình An, ở phía trái đường Điện Biên Phủ, trên hướng đi lên Từ Đàm.
Năm 1936 Ngài được cử làm Phó Trị sự Sơn môn Thừa Thiên.
Năm 1943, khi Hòa thượng Trí Thủ mãn nhiệm, Ngài được Sơn môn Huế công cử giữ chức Chánh Trị sự. Ngài đã sắp xếp một số lớn Phật sự quan trọng như: Lấy lại chùa Phổ Quang và giao cho Hòa thượng Mật Thể làm Trú trì; lấy lại chùa Linh Quang và mời Hòa thượng Mật Nguyện từ Hàm Tân về làm Trú trì; chuyển gạn Học Tăng từ Tây Thiên, Trúc Lâm, Vạn Phước về Linh Quang, và biến nơi này thành Sơn môn Phật học đường Linh Quang, dạy nội điển các cấp. Ở cương vị Chánh Trị sự, Ngài vận động và tiếp nhận lại chùa Báo Quốc, biến nơi này thành Phật Học Viện. Chuyển chư Tăng sinh từ Linh Quang về đây và tiếp nhận thêm Học Tăng từ các miền Nam Bắc của đất nước về đây trọ học.
Năm sau, 1944, Ngài vừa trú trì chùa Thiên Minh, vừa kiêm chức Trưởng ban Quản lý Sơn môn Phật học đường Linh Quang.
Năm 1949, Bổn sư viên tịch; Ngài được kiêm giữ chức Trú trì chùa Từ Quang.
Đến ngày 09.5.Canh Dần (1950) Ngài viên tịch, thọ 48 tuổi đời, 26 hạ lạp; thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43.
---o0o---
1. VĂN ĐIẾU Thầy Thích Quảng Huệ
Chánh Trị sự Sơn môn Tăng Già Thừa Thiên,
(đọc khi làm lễ nhập Tháp ngày 12.05.Canh Dần - 26.06.1950)
Nam Mô A Di Đà Phật,
Thầy con nhà họ Nguyễn, giòng dõi tu hành, người ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Sau năm Giáp Thân (1903) xuất gia lúc còn nhỏ, hành đạo tại chùa Từ Quang với Ngài Thượng tọa hiệu Giác Bổn.
Năm Giáp Tý (1923) được Bổn sư tế độ cho hiệu Quảng Huệ. Cũng trong năm Giáp Tý ấy, tháng 6 Â.L. thọ giới Cụ túc với Ngài Hòa thượng Tâm Tịnh tại chùa Từ Hiếu.
Năm Canh Ngọ (1929), Thầy làm Tọa chủ chùa Thiên Minh và qua năm sau thì sùng hưng chùa ấy.
Năm 33 tuổi (1936), Thầy sung chức Phó Trị sự Sơn môn Thừa Thiên; năm 35 tuổi (1944), kiêm chức Trưởng ban Quản lý Sơn môn Phật học đường tại chùa Linh Quang.
Năm 1948, sung chức Chánh Trị sự Sơn môn Thừa Thiên và Phó Trưởng ban Quản trị Phật học đường Trung Việt. tại chùa Báo Quốc.
Năm 1949, Bổn sư viên tịch, Thầy được thừa truyền y bát làm Tọa chủ chùa Từ Quang.
Qua tháng 2 Â.L. năm Canh Dần này (1950), Thầy vì thấy trong người có bịnh nặng, giữa buổi Đại hội đồng Sơn môn, Thầy xin nghỉ việc để tịnh dưỡng. Nhưng vì chỗ Sơn môn quá tin cậy hết sức yêu cầu Thầy vẫn giữ chức Chánh Trị sự như thường. Thấy sự quyết định của Sơn môn, bất đắc dĩ Thầy phải giữ chức lại. Tồn Ban Trị sự đã vâng lệnh Ngài Tòng Lâm Pháp chủ sắp đặt lại việc Trị sự, chia việc làm, cho Thầy được khỏe hơn, đủ thời giờ dưỡng bịnh.
Không ngờ bịnh càng ngày càng nặng, biết thế nên đầu tháng 5 Â.L. này, Thầy cho chở về chùa Từ Quang an tâm niệm Phật, nhứt tâm cầu nguyện vãng sanh.
Vì mối đạo tình thâm cảm, nên được các vị Tôn túc, các vị Thiện tri thức, các ban Trị sự Sơn môn, Phật học đường và ban Tương cứu tế Sơn môn, lo trước tang sự và luân phiên tụng niệm không ngớt. Thì đến 5 giờ 5 phút chiều ngày mồng 9 - 5 Â.L. Thầy yên lặng viên tịch!
Thầy viên tịch giữa một cảnh tượng mà tiếng niệm Phật tiếp dẫn vang động cả một góc trời, đến phút cuối cùng vẫn thấy thần sắc hết sức bình tĩnh và sáng suốt, đôi môi cứ mấp máy niệm Phật đến cùng. Tồn thể Phật tử hiện diện đã cảm nhận Thầy chắc chắn được theo Phật vãng sanh về Cực lạc.
Thế là Thầy hưởng thọ được 47 tuổi và giới lạp được 28 hạ lạp.
Kính bạch Giác linh Thầy !
Hôm nay Thầy viên tịch thực là một cái tang buồn cho tồn thể Sơn môn cũng như Hội Việt Nam Phật học và tồn thể Phật giáo tồn xứ ! Đối lại sanh bình của Thầy, từ ấu niên đến nhập đạo, Thầy sẵn tánh thông minh, nhận rõ chơn tinh thần Thuần túy của Phật pháp, thế giới là không hoa, Niết bàn là mộng huyễn, lý chơn thường ở trong tánh cẩn thận mà bao dung, cách cư xử ở trong hạnh hòa nhã mà cương quyết tinh thần ấy đã lưu lộ trong chỗ tu hành khẳng khái và làm Phật sự. Chúng tôi phải gọi đó là tánh trầm hùng rất có căn để. Với Bổn sư, Thầy rất có hiếu đạo, với Tôn trưởng rất mực phụng thờ, với thiện hữu rất mực kính nhường, với chúng Tăng rất mực hòa nhã, với hậu tấn rất tận tâm đào tạo Tăng tài, với môn đồ thì giáo dục rất có quy củ, và với tín đồ thì hóa đạo rất có phương châm. Trong 15 năm trời, từ việc Sơn môn, việc Phật học đường, kể sao xiết được Phật sự Thầy đã làm, mặc dầu đau ốm, Thầy cũng gắng sức làm việc, tận tâm với nhiệm vụ cho đến khi gần từ giã trần hoàn. Chúng tôi đây chỉ xin nhắc lại một phần trăm trong đời tu hành với bao công trình của Thầy đối với Phật giáo, để làm lời khuyến lệ cho hậu lai cúi xin Thầy chứng giám. Bạch trong Tăng Ni Sơn môn, kính các hội hữu, và các vị Thiện tín Cư sĩ!
Nếu nơi đây, chúng ta chỉ biết thương tiếc cái sắc thân giả tạm của Thầy bằng giọt lệ của thế tình, và tiếng than của luyến ái không thể nào đủ được. Trái lại, chúng ta phải thương tiếc Thầy, nhớ công đức của Thầy bằng cách đem hết thâm tâm phụng sự Phật giáo, và dìu dắt mọi người lên đường chánh tín mới là phải cách. Vả chăng sắc thân tuy diệt giác tánh thường còn, thì Thầy có mất đi đâu, chẳng qua với cõi này cơ duyên đã mãn, Thầy trở về Cực lạc hay đi giáo hóa ở các phương.
Thì tuy, hôm nay liên đài thá chất, thiên nhạc nghinh không, hình dẫu không còn mà tinh thần của Thầy vẫn rạng rỡ trong Sơn môn, tôn phái, chí hướng của Thầy được nêu cao trong tồn thể Phật giáo. Dẫu Phật giáo có mất đi một người tử chí vì Đạo, Sơn môn mất đi một vị Tăng già gương mẫu, hàng đệ tử mất đi một vị Bổn sư đáng kính thờ, nhưng giờ phút này, Ban Trị sự Sơn môn chúng tôi, cũng như các vị Thiện tri thức cầu nguyện Thầy được lên cao thượng phẩm chứng quả vô sanh và chắc rằng nương 4 hoằng thệ nguyện sẽ trở lại cõi Ta bà này cùng chúng ta cộng hành Phật sự, có ngày chúng ta sẽ gặp lại.
Nam Mô A Di Đà Phật
Ban Trị sự Sơn môn Tăng già Thừa Thiên.
2. Nhớ Thầy
Thiên Minh là một ngôi chùa nhỏ nằm sau lưng chùa Từ Đàm. Nhỏ xác mà lòng không nhỏ nên từ những năm cuối 30, Thiên Minh đã là nơi cho “tha hồ muôn khách đến”. Khách đây chẳng phải là quan lại chốn triều đình, là vương tôn công tử nào; cũng chẳng phải là tín đồ ra vào lễ bái. Khách đây là khách Tăng, là các Thầy của các lớp Đại học Phật giáo đầu tiên được mở ra ở Tây Thiên dưới sự giảng dạy của Hòa thượng Thập Tháp Thích Phước Huệ. Bấy giờ, Phật giáo đang cố vươn mình trỗi dậy với phong trào Chấn hưng ở ba miền sau nhiều năm ẩn mình hoặc hóa thân vào các phong trào yêu nước chống Pháp. Lớp Phật học cao cấp này, trong hoàn cảnh đó, là một thành tựu bước đầu đáng kể của nỗ lực chấn hưng Phật giáo; và là niềm tin, niềm tự hào của Phật tử miền Trung. Quý thầy Chánh Thống, Quảng Huệ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Trí Thủ, Mật Thể... của lớp này đương thời vừa học vừa gánh vác công việc của Sơn môn Tăng già để rồi, từ đó về sau, hầu hết đã trở thành những cột trụ của ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.
Thời đó, Thiên Minh trở thành nơi cho khách đến là vì có thầy Quảng Huệ ở đó. Có Thầy, không phải là ở những chức vụ Phó Trị sự Sơn môn Thừa Thiên hay quản lý Phật học đường Tây Thiên do Thầy đảm nhiệm. Mà có Thầy là ở cái tấm lòng bao dung, cái cốt cách uy nghi, cái hạnh đức từ hòa và xử lý mọi Phật sự rất nghiêm minh của Thầy dễ khiến cho bạn lữ kính mến, gần gũi. Thầy không là nhà lãnh đạo nổi bậc theo cái nghĩa thời thượng ngày nay nhưng tấm lòng, cốt cách, hạnh đức đó biểu lộ trong cách cư xử của Thầy với kẻ trên người dưới và nhuần thấm vào các công việc Thầy làm cho Sơn môn, cho Phật học đường đã khiến Thầy trở thành một chiếc bóng lớn; và khiến Thiên Minh trở thành mảnh đất lành cho những tâm hồn nặng lòng với tiền đồ Phật giáo.
Với Thầy, chúng tôi thuộc lớp sau nên không có được cái gần gũi như quý Thầy trên đây. Nhưng hình ảnh của Thầy cũng đã nhiều lần thống qua trước mắt và để lại trong lòng chúng tôi. Nhất là hình ảnh một Thầy Chánh Thống, sau ngày Thầy viên tịch năm 1950, mỗi lần ghé lại Thiên Minh, ngồi nhìn hình ảnh Thầy trên vách, thốt nên lời đau đớn “Đi đâu mà gấp vậy. Đi đâu mà gấp vậy. Sao không sống mà la người ta..”. rồi khóc, lại càng làm cho tôi xúc động mà hình dung ra tấm lòng, cốt cách, hạnh đức của Thầy như thế nào. Càng xúc động mà rõ hơn là Thầy, trong những ngày tháng mùa đông năm 1945, khi nạn đói hoành hành khắp nơi để cho xứ Huế cũng không tránh khỏi với bao người phải chết trong cảnh cơ hàn. Những ngày tháng đó, xót nỗi đau của người dân cơ khổ, Thầy đã âm thầm tổ chức nấu bánh tày, bỏ đầy trong các túi áo trong, áo ngoài, đem đi cấp cứu cho đồng bào trong cơn đói lạnh. Rồi với những người bất hạnh, chết không có tiền chôn, Thầy đến với họ, an ủi thân nhân và lo an táng cho họ chẳng kể thân quen. Không được là người gần gũi với Thầy khi Thầy còn sống; nhưng tấm lòng, công hạnh của Thầy gần gũi với chúng tôi và Tăng Ni ngày nay biết bao. Khi trận lũ lụt tháng 11-1999 vừa qua đã mang đến bao nhiêu là đói khổ, chết chóc tang thương trên mảnh đất Huế này, chúng tôi và đàn hậu học ngày nay nối tiếp Thầy đem từng vắt cơm đến cho người dân lâm nạn, lo liệu chôn cất cho những người bất hạnh. Năm mươi lăm năm với người trước kẻ sau ! Thì ra, tấm lòng và công hạnh của người con Phật bao giờ cũng thế.
(Hòa thượng Thích Thiện Siêu ghi)
