Tiểu Sử
|
|||
| Danh Tánh | HT Như Đồng Đắc Quang - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán -
|
||
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | HT Như Hán Nguyên Cát - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 7 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Đồng Môn | N/A | ||
| Phối Ngẫu | #1 | Danh Tánh | Chưa Rõ |
| Pháp Tử | ♂️ HT Hồng Tuyên Từ Thông - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Hoàng Cảnh Viên Dung, ♂️ HT Hồng Nam Huyền Không | ||
Hành Trạng
Hòa thượng Như Đồng Đắc Quang (1876 - 1947)
Chùa Quốc Ân - Huế

Hòa thượng người dòng họ Đặng, sinh năm 1876; nguyên quán xã Đức Phổ, Tổng Thuận Lý, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình. Ngài tên thật là Đặng văn Khốn, sinh trong một gia đình thâm tín Tam bảo. Thân phụ là cụ Ông Đặng Văn Ngân (Ngạn), người tỉnh Quảng Bình vào Huế ở gần chùa Linh Mụ; sau đó lấy vợ và sinh hạ được ba người con trai, cả ba đều được cha mẹ cho xuất gia. Anh đầu là Hòa thượng Đắc Ân, anh kế là Hòa thượng Đắc Hậu và em út là Hòa thượng Đắc Quang. Hòa thượng Đắc Quang được thân phụ cho xuất gia ở tuổi thiếu niên tại chùa Linh Mụ. Sau này ngài cầu pháp với Hòa thượng Thạnh Hy (tức Như Hán, tự Nguyên Cát) và được pháp danh là Như Đồng, tự Thanh Khốn, hiệu là Đắc Quang.
Ngài thọ Cụ túc giới ở giới đàn Báo Quốc do ngài Hải Thuận Diệu Giác làm Đàn đầu Hòa thượng.
Ngày mồng 8 tháng 2 năm Giáp Tuất (22.03.1934) được Bổn sư trao kệ đắc pháp:
Nguyên văn :
清 晃 道 法 廣 無 邊
迷 悟 色 空 自 心 堅
日 夜 慇 勤 常 精 進
堅 持 梵 行 得 真 傳
Phiên âm :
Thanh Khống đạo pháp quảng vô biên
Mê ngộ sắc không tự tâm kiên
Nhật dạ ân cần thường tinh tấn
Kiên trì phạm hạnh đắc chân truyền.
Nguyên Hồng dịch:
Thanh không đạo mầu rộng vô biên,
Sắc không, mê ngộ tự tâm chuyên.
Ngày đêm cố gắng thường tinh tiến,
Phạm hạnh kiên trì đắc pháp thiền.
Năm 1935, sau khi Hòa thượng Đắc Ân (Sư huynh, Tăng cang Linh Mụ, trú trì chùa Quốc Ân viên tịch, Sơn môn đề cử Ngài giữ chức Trú trì chùa Quốc Ân và năm 1936, Hội An Nam Phật học Trung Phần mời Ngài vào ngôi vị Chứng Minh Đại Đạo sư cho Hội.
Đương thời ngài là người thông minh, ham học, giới hạnh thanh tịnh, khoa nghi bái sám tinh thông. Ngài rất có uy tín trong sơn môn và sự kính nể của đương triều, bổn đạo trong và ngoài tỉnh qui y rất đông.
Hòa thượng là người tu hành nghiêm cẩn. Ngài học Phật pháp với nhiều Đại sư danh tiếng trong các tổ đình nổi tiếng ở Huế như ngài Bửu Tích Tăng cang chùa Linh Mụ, Sư huynh Đắc Ân… Ngoài ra, Ngài cầu học nghi lễ với các Đại sư trong sơn môn, nhất là Sư huynh Đắc Ân, đương kim Trú trì chùa Quốc Ân lúc bấy giờ.
Hòa thượng là người có đời sống nội tâm rất phong phú, ai nói gì Ngài cũng “Mô Phật”; thích tu không ưa gây sự. Do giới hạnh, do học vấn uyên thâm và tinh thông khoa nghi Phật giáo, nên Ngài được Bộ Lễ và Sơn môn cử giữ chức Tăng cang chùa Linh Mụ và Trú trì chùa Quốc Ân sau khi Hòa thượng Đắc Ân viên tịch.
Trong thời gian giữ chức Tăng cang chùa Linh Mụ, thời cuộc lúc ấy có nhiều biến động. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, bao vây và đánh phá kinh thành Huế và vùng phụ cận; Ngài đã phải bao lần nhọc sức để lo cho hai Tổ đình được yên ổn. Sau đó, Ngài lại lo tu bổ Tổ đình, sửa sang tháp Tổ trong khuôn viên tổ đình, cố gắng lo đời sống cho Tăng chúng của hai Tổ đình được no ấm yên ổn tu hành.
Trong thời buổi khó khăn, Hòa thượng phải chạy vạy nuôi Tăng chúng cho đủ ngày ba bữa, nhưng kinh tế thì chỉ trông cậy vào một số ruộng cho làm thuê và của cúng dường của thập phương để trang trải cho kinh phí sinh hoạt cũng như tu sửa chùa, tháp không phải là đơn giản, nhưng Ngài đã cố gắng vượt qua tất cả.
Đương thời Hòa thượng là người giỏi về khoa nghi và tinh thông Phật Pháp nên đã độ được rất nhiều đệ tử xuất gia và tại gia. Trong đó hàng xuất gia có thể kể đến như các vị: Thầy Mãn (tức HT. Huyền Không), thầy Tề, thầy Huệ, thầy Khai, thầy Thứ, thầy Dẫn, thầy Nghệ (Pháp danh Hoàng Nhị, tự Vĩnh Thừa hiệu Tín Nguyện), thầy Diệu Pháp danh Hoàng Nhật tự Trí Minh hiệu Bửu Cảnh ...
Do tuổi tác ngày càng cao, Phật sự quá nhiêu khê, gánh nặng hai vai đã bào mòn cơ thể, nên sức khỏe của Ngài đã giảm sút. Ngài đã quy Tây ở tuổi thất thập cổ lai hy vào năm 1947, trụ thế 70 tuổi. Tháp của Ngài được lưu giữ ở Tổ Đình Quốc Ân, Huế, gần tháp ngài Tế Chánh - Bổn Giác, bia tháp ghi : “Sắc tứ Thiên Mụ Tăng Cang trùng hưng Quốc Ân tự chủ thượng Như hạ Đông hiệu Đắc Quang Hòa thượng chi tháp”. Long vị chùa ghi : “Từ Lâm Tế tứ thập nhị thế Thiên Mụ tự Tăng Cang trùng hưng Quốc Ân tự thượng Như hạ Đông hiệu Đắc Quang giáo thọ A-xà-lê chi Giác linh”.
Tưởng niệm
Với uy tín của Ngài, bổn đạo gần xa đã tấp nập về Quốc Ân xin quy y với Ngài thời bấy giờ số kể hàng ngàn người. Với những công đức của Ngài với Tổ đình Quốc Ân, thiết nghĩ các thế hệ kế tiếp Ngài phải biết cái ân đó của tiền nhân để cố gắng làm rạng chốn Thạch trụ tòng lâm đất Tổ.
Để tán thán công hạnh của Ngài, Hòa thượng Chánh Thống có làm hai câu đối đề : Nhục tháp Hòa thượng Đắc Quang chùa Quốc Ân.
Liên khởi hoàng lô, đốn siêu trình vị ngoại
Nguyệt minh hoa biểu, kiều vọng hữu vô giang.
(Sen mọc lò hoàng, máu vượt ngoài trình vị,
Trên hoa trăng sáng, nhón trông khoảng có không)
Tam thiên thế giới hồ trung tịnh
Bát đức liên trì kiếp ngoại xâm.
(Ba ngàn thế giới trong bình sạch
Tám đức ao sen ngoài kiếp xuân)
