HT Tâm Như Trí Thủ

Tiểu Sử

Danh Tánh HT Tâm Như Trí Thủ - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán -
Sanh#1Năm Sanh1909
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápHT Viên Thành Trừng Thông - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Đồng Môn ♂️ 0-HT Tâm Phổ Trí Uyên, ♂️ HT Tâm Đăng Trí Hiển - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ 0-HT Tâm Thọ Trí Giải
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ HT Nguyên Minh Đức Thiệu - Ðời Thứ 44 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 10 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Nguyên Tánh Đức Tâm - Ðời Thứ 44 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 10 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Nguyên Định Đức Trì - Ðời Thứ 44 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 10 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Nguyên Thuận Đức Tánh - Ðời Thứ 44 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 10 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ TT Nguyên Minh Minh Đức - Ðời Thứ 44 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 10 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Nguyên Ý Phước Châu - Ðời Thứ 44 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 10 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Tịch#1Viên Tịch1984

Hành Trạng

Hòa thượng Tâm Như Trí Thủ (1909 - 1984)
Chùa Báo Quốc - Huế

Hòa thượng húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Thích Trí Thủ. Hòa thượng sanh giờ Hợi ngày 19.9 năm Kỷ Dậu tức ngày 1 tháng 11 năm 1909. Xuất thân từ một dòng tộc nối đời sùng mộ Phật pháp. Hòa thượng thuộc thế hệ thứ tám của họ Nguyễn, họ khai canh và khai khẩn làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Dòng tộc này từ thế hệ thứ ba có Đại sư Đạo Minh Phổ Tịnh trụ trì kế tổ Tổ đình Báo Quốc - Huế, kiến lập Sắc tứ Linh Quang tự tại thôn nhà, làng Trung Kiên tỉnh Quảng Trị vào năm Gia Long nguyên niên (1802). Đời thứ tư có Hòa thượng Nhất Định Tánh Thiên khai sơn Tổ đình Từ Hiếu. Thế hệ thứ sáu Hòa thượng pháp danh Trừng Nhã tự Chí Thanh khai sơn chùa Giác Lâm. Thế hệ thứ bảy Hòa thượng Ngộ Tánh tự Hưng Long hiệu Phước Huệ khai sơn chùa Hải Đức. Đồng hàng thứ tám có Hòa thượng pháp danh Tâm Lượng hiệu Diệu Hoằng trùng hưng Diệu Đế quốc tự.
Thân phụ húy Văn Minh pháp danh Trừng Khiết tự Diệu Quang hiệu Hưng Nghĩa. Thừa tiếp gia phong, theo hạnh tu bán thế, lập am thất Phổ Tế tại vùng đồi phía Nam kinh thành Huế, quy ngưỡng Phật pháp.
Thân mẫu tục danh Lê Thị Nậy, tự Chiểu người làng Cu Hoan, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Hòa thượng là con trai trưởng, gia đình có hai em một trai Nguyễn Văn Khâm và một gái Nguyễn Thị Vân.
Từ tấm bé, Hòa thượng đã theo đòi nghiên bút với Hán tự, chữ viết văn học thời này. Lên chín là khá làu thông việc đọc và viết các bài kinh nhật tụng. Ảnh hưởng đạo phong của các bậc Tôn túc thân tộc, vốn ươm sẵn cốt tủy bồ đề và túc duyên với Phật pháp, mười bốn tuổi theo Bác ruột học kinh ở chùa Hải Đức - Huế. Dòng tộc vốn kính ngưỡng cao danh và đạo vị của Đại sư Viên Thành nên năm mười bảy tuổi (1926) Hòa thượng được cho đầu sư thọ học với Ngài tại chùa Tra Am Huế. Hòa thượng được Bổn sư Viên Thành nhận làm đệ tử thứ tư, ban pháp danh Tâm Như, pháp tự Đạo Giám và giáo huấn nghiêm ngặt. Ba đại sư huynh ngộ pháp nổi danh của Hòa thượng là Trí Uyên, Trí Hiển và Trí Giải.
Năm 1929, đủ hai mươi tuổi, Bổn sư cho vào giới đàn chùa Từ Vân ở Đà Nẵng thọ Cụ túc giới, Hòa thượng trúng tuyển Thủ Sa di trong số 300 giới tử tại giới đàn này. Do đó, Bổn sư Viên Thành đã cho pháp hiệu là Thích Trí Thủ, với ý khen tặng chữ Thủ là đứng đầu, Pháp húy là Tâm Như, tự Đạo Giám.
Cùng năm này Hòa thượng viên tịch, Ngài về Huế cư tang cho Bổn sư, sau hai năm cư tang Bổn sư tại chùa Tra Am, Hòa thượng cùng các pháp lữ vào chùa Thập Tháp, Bình Định, tham học với Hòa thượng Phước Huệ, năm 23 tuổi.
Mãn học, Hòa thượng ngồi ghế giáo thọ, dạy trường Phật học Phổ Thiên ở Đà nẵng. Vì chưa thỏa lòng cầu pháp, Hòa thượng trở ra Huế, cùng các vị đồng học ở Thập Tháp ngày trước, tổ chức trường Phật học tại chùa Tây Thiên, cung thỉnh Tăng cang Giác Nhiên chùa Thuyền Tôn làm giám đốc, Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp làm đốc giáo dạy nội điển, đồng thời mời các cư sĩ như bác sĩ Lê Đình Thám dạy luận học, các cụ Nguyễn Khoa Tồn, Cao Xuân Huy v.v... dạy các môn về văn hóa theo trình độ đại học. Ở trường này, Hòa thượng đã chính thức học chương trình đại học Phật giáo cũng như văn hóa. Trong thời gian này, Hòa thượng đồng thời làm giảng sư cho hội Phật học Huế và dạy lớp Trung đẳng Phật học cũng mở tại chùa Tây Thiên. Lúc này, Hòa thượng được hai mươi bảy tuổi. Khi hội Phật học mở trường tiểu học Phật giáo tại chùa Báo Quốc, Hòa thượng đã kiêm dạy chúng tăng sinh ở đây.
Hòa thượng cho học cả hai chương trình nội điển và thế tục. Nhờ hướng đào tạo đó mà nơi đây đã là nguồn cung cấp liên tiếp những Chánh đại diện giáo hội các tỉnh, quận, hoặc giảng sư, trụ trì, hiệu trưởng, giám học các trường Bồ đề, quản lý nhà in, nhà phát hành kinh sách, khắp miền Trung. Về sau, một số đã trở thành giảng sư, giáo sư đại học trong ngành văn hóa giáo dục phục vụ đạo và đời.
Năm 1960, Hòa thượng tạo mãi miếng vườn ở Gò Vấp khai kiến tu viện Quảng Hương Già Lam.
Năm 1962, Hòa thượng dẫn đầu phái đoàn Phật giáo Việt Nam tại miền Nam tham dự Đại lễ thế giới kỷ niệm năm 2500 đức Phật nhập Niết bàn, tại Lào.
Phật đản năm 1963 khởi đầu thời pháp nạn, Hòa thượng về Huế cùng các vị lãnh đạo Phật giáo hướng dẫn phong trào tranh đấu bảo vệ đạo pháp và dân tộc cho đến khi chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam giữ.
Ngày 1.11.1963, Bạo quyền Sài Gòn sụp đổ. Qua cơn pháp nạn, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ra đời, thành lập với 11 đoàn thể các hệ phái Phật giáo tồn miền Nam, Hòa thượng được bổ sung vào Ban dự thảo hiến chương Giáo hội. Trong nhiệm kỳ đầu, Hòa thượng giữ phần Tổng vụ Hoằng pháp. Công việc hoằng pháp và giáo dục tăng ni là mối quan tâm hàng đầu của Hòa thượng. Ở nhiệm vụ và vai trò này, Hòa thượng đã mở ba đại hội Hoằng pháp: một tại Phật học viện Nha Trang, một tại chùa Xá Lợi, Sài gòn và một tại chùa Ấn Quang, (Chợ Lớn). Hoạt động và thành tích Hoằng pháp đều tổng kết ghi lại trong ba tập Kỷ yếu Đại hội. Hòa thượng còn thành lập Giảng sư đoàn và cắt cử mỗi vị phụ trách một tỉnh để diễn giảng Phật pháp cho tín đồ. Sau, Hòa thượng còn thành lập Phật học viện Phổ Đà ở Đà Nẵng.
Năm 1964, Hòa thượng thân làm Viện trưởng viện Cao đẳng Phật giáo, thành lập tại chùa Pháp Hội Sài Gòn; đây là tiền thân của viện Đại học Vạn Hạnh. Hòa thượng còn chủ trương các tập san Tin Phật, Bát nhã, để gióng tiếng pháp cho đời.
Năm 1965, sau khi ổn định mọi Phật sự, Hòa thượng hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Hồng Kông, Đài Loan, giao thiệp với nhiều danh tăng các nước.
Sau thời làm Tổng vụ trưởng tổng vụ Hoằng pháp, Hòa thượng lại được giáo hội trao giữ nhiệm vụ Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh.
Năm 1968, Hòa thượng được giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất chính thức cử hành lễ tấn phong Hòa thượng. Cùng năm này, Hòa thượng khai giới đàn tại Phật học viện Nha Trang.
Năm 1969, đại trùng tu Tổ đình Báo Quốc.
Từ Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất kỳ 5 và 6, Hòa thượng giữ chức vụ Viện trưởng viện Hóa đạo, đến năm 1975, Ngài kiêm phụ tá đức Tăng Thống, cho đến khi đất nước và đạo pháp chuyển qua giai đoạn lịch sử mới.
Năm 1976, Hòa thượng lại tổ chức Đại giới đàn Quảng Đức tại Tổ đình Ấn Quang, Chợ Lớn.
Trước chiều hướng mới và cũng thể theo ý hướng thống nhất mà xưa nay Phật giáo Việt Nam vẫn thường ấp ủ, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong cương vị Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hòa thượng đã liên hệ chư tôn túc lãnh đạo các hệ phái và tổ chức Phật giáo khác trong cả nước, bàn bạc việc thống nhất Phật giáo Việt Nam. Chính đây là nguyện vọng chung của toàn thể Tăng Ni và Phật tử. Nguyện vọng này đã thể hiện cụ thể tại Đại hội giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất kỳ 7 họp tại chùa Ấn Quang, Chợ Lớn, ngày 23.1.1977 gồm 160 đại biểu của 54 đơn vị trong giáo hội mà Hòa thượng nhân danh Viện trưởng tân nhiệm đã ký thông bạch 7 điểm trong đó có điểm thứ sáu nguyên văn như sau: "Đại hội cẩn ủy Giáo hội Trung ương tiếp tục vận động thống nhất Phật giáo cả nước trong tinh thần Đạo pháp và truyền thống dân tộc."
Sau khi Ban vận động thống nhất Phật giáo thành hình, Hòa thượng được bầu làm Trưởng ban Ban vận động và khi hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại thủ đô Hà Nội ngày 7.11.1981, Hòa thượng đắc cử Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ đầu tiên.
Những năm cuối của báo thân, tuy tuổi già sức yếu, Hòa thượng vẫn không xao lãng việc đạo việc đời. Năm 1979 và 1982 dẫn đầu đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam dự đại hội thứ 5 và thứ 6 của tổ chức Phật giáo châu Á vì hòa bình tại Mông Cổ.
Năm 1980 làm trưởng đoàn đại biểu Tôn giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động Tôn giáo thế giới vì hòa bình và giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Nhật Bản.
Năm 1981 làm trưởng đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động tôn giáo thế giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên Xô, cũng năm này kiến tạo thêm chánh điện Tu viện Quảng Hương Già Lam.
Năm 1983 dự hội nghị các vị đứng đầu Phật giáo năm nước châu Á, tổ chức tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Dù bận rộn Phật sự suốt con đường hành đạo, Hòa thượng vẫn dành thì giờ phiên dịch kinh, biên soạn sách để hoằng dương giáo hóa. Các tác phẩm chính gồm Kinh Phổ Môn, kinh Phổ Hiền, Mẹ hiền Quán âm, kinh Vô thường, kinh A di đà, kinh Thập Thiện nghiệp đạo, kinh Đại phương đẳng Như Lai tạng, kinh Bất tăng bất giảm, Pháp môn tịnh độ, Tâm kinh Bát nhã Ba la mật đa, Luật Tỳ-kheo, Luật Bồ-tát, Luật Tứ phần, Luận Khuyến phát bồ đề tâm, Nghi thức truyền giới Bồ-tát tại gia và Thập thiện, Nghi thức Phật đản, Nghi thức lễ sám buổi khuya và các tác phẩm khác đã in hoặc chưa in.
Thâm hiểu và cảm thông nghiệp lực nhân sinh, lân mẫn chúng tăng ni không giữ trọn nguyện ước thanh quy giới luật phải hồn tục sống đời thế gia, Hòa thượng lập chúng Dược Vương để quy tụ và sinh hoạt với số đông Phật tử vốn đã có thời gian ươm mầm hộ trì chánh pháp này.
Mãn báo thân 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo. Vào lúc 21 giờ 30 ngày 2 tháng 4 năm 1984 (tức ngày 2 tháng 3 năm Giáp Tý) Hòa thượng thị tịch tại Quảng Hương Già Lam, quàn tháp tại đây chờ di quan phụng Tổ tại tổ đình Báo Quốc theo nguyện ước lúc sinh tiền.

---o0o---

II.LỜI TRUY ĐIỆU

(Lời điếu của cụ Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trưởng ban lễ tang, đọc trong buổi lễ truy điệu Hòa thượng Thích Trí Thủ tại chùa Xá Lợi, thành phố Hồ Chí Minh, sáng ngày 8 tháng 4 năm 1984).

Thưa toàn thể quan khách và đồng bào Phật tử,
Hôm nay, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng toàn thể đồng bào Phật tử long trọng làm lễ tiễn đưa Hòa thượng Thích Trí Thủ - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam về nơi yên nghỉ nghìn thu.
Trong giờ phút đau thương vĩnh biệt này, chúng tôi vô cùng xúc động, xin cho phép chúng tôi nhắc lại thân thế và công đức quí báu của Hòa thượng, đó cũng là điều rất cần thiết.
Hòa thượng Thích Trí Thủ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1909 trong một gia đình nhà Nho thanh bạch tại làng Trung Kiên, huyện Triệu Hải, tỉnh Bình Trị Thiên. Hòa thượng sớm chọn con đường cứu khổ bằng việc xuất gia học đạo, song hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ cũng bị đế quốc thực dân chà đạp, nhân dân ta lúc bấy giờ quằn quại trong đau khổ, một cổ hai tròng áp bức... nên trong chí hướng cao quí cứu khổ cho con người, việc cứu dân và cứu nước là nhiệm vụ khẩn bách và thiết thực nhất trong lòng Hòa thượng. Nên, ngay từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Hòa thượng đã tham gia Mặt trận Việt Minh ở Huế, sáng lập Hội Phật giáo cứu quốc ở Trung bộ và được bầu làm Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Thừa Thiên khóa I. Sẵn tấm lòng yêu nước thiết tha, với tư cách là giáo phẩm cao cấp, là nhà lãnh đạo của Phật giáo, Hòa thượng đã khơi dậy tinh thần yêu nước trong Tăng Ni Phật tử, truyền cảm lòng yêu nước, gắn bó với dân tộc, noi theo truyền thống quí báu của Phật giáo Việt Nam, làm cho mọi người ý thức được và cùng tham gia các phong trào đấu tranh chống chế độ Mỹ nguỵ.
Năm 1963, Hòa thượng bị chế độ độc tài Ngô Đình Diệm bắt và bỏ tù tại Huế. Ra khỏi tù, Hòa thượng lại tiếp tục lãnh đạo Tăng Ni tham gia các phong trào đấu tranh của Nhân dân cho đến ngày miền Nam hồn tồn giải phóng.
Sau giải phóng Hòa thượng tiếp tục hướng dẫn Tăng Ni Phật tử, phát huy truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt Nam, tích cực tham gia các phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hòa thượng đã nhận rõ ngày nay, yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội là một. Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ áp bức, bóc lột, đem lại công bình xã hội và quyền làm chủ thật sự cho nhân dân, đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh. Và dân có giàu, nước có mạnh mới có thể bảo đảm vững chắc nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Hòa thượng luôn luôn xác định rõ "Đoàn kết là sức mạnh" để phát huy truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng đã giành nhiều công sức vun đắp cho sự đoàn kết, hòa hợp trong Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Năm 1980, Hòa thượng được hàng Giáo phẩm lãnh đạo các tổ chức và hệ phái Phật giáo trong cả nước bầu làm Trưởng ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam, và tháng 11 năm 1981, tại Đại hội Đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam, để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng được Đại hội cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II. Năm 1983, Hòa thượng được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Hòa thượng Thích Trí Thủ còn là nhà hoạt động tích cực của phong trào Phật giáo quốc tế: Năm 1979 và năm 1982, Hòa thượng dẫn đầu đoàn Đại biểu Phật giáo Việt Nam dự Đại hội 5 và Đại hội 6 tổ chức Phật giáo châu Á vì hòa bình (ABCP) tại Mông Cổ.
Năm 1980, Hòa thượng là trưởng đoàn Đại biểu Tôn giáo Việt Nam, dự hội nghị các nhà hoạt động tôn giáo thế giới vì hòa bình và giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt nhân tại Tokyo Nhật Bản. Năm 1981, Hòa thượng là trưởng đoàn Đại biểu Phật giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động tôn giáo thế giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến tranh hạt nhân tại Mát-cơ-va, Liên xô. Năm 1983, Hòa thượng dự hội nghị các vị đứng đầu Phật giáo 5 nước Châu Á tại Viêng-chăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Là nhà tu hành chân chính, giàu lòng yêu nước Người sáng lập và lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Nhà hoạt động tích cực cho phong trào Phật giáo Quốc tế vì hòa bình. Sứ nghiệp và hồi bão của Hòa thượng trọn đời cống hiến cho Đạo pháp và Dân tộc là tấm gương sáng ngời trước toàn thể Tăng Ni, Phật tử yêu nước Việt Nam.
Hòa thượng mất đi là một tổn thất lớn cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trước giờ phút trang nghiêm này, vĩnh biệt Hòa thượng, mọi Tăng Ni, Phật tử, ta hãy noi theo tấm gương sáng ngời của Hòa thượng, tiếp tục hồn thành sự nghiệp lớn lao do Hòa thượng để lại, thực hiện trọn vẹn phương hướng hành động mà Giáo hội đã vạch ra với phương châm gắn Đạo pháp với Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Làm như thế là quí vị đốt nén tâm hương cầu nguyện cho Hòa thượng siêu sinh nơi Lạc quốc.
Kinh thưa các Cụ, các Vị, cùng đồng bào Phật tử, trên bước đường tiến lên không ngừng của cách mạng, bên cạnh những thắng lợi to lớn, đất nước ta vẫn còn phải trải qua nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh để lại, kẻ thù cũng còn nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá ta. Song, chúng ta nhất định sẽ vượt qua tất cả vì chúng ta có lòng tin vững chắc vào tiền đồ tươi sáng của đất nước, chúng ta có sức mạnh đoàn kết nhất trí của tồn dân, Tăng Ni Phật tử ta lại có truyền thống yêu nước, chúng ta hãy nỗ lực đem hết tài năng, trí tuệ để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa thân yêu. Chúng ta làm được như thế, chắc chắn Hòa thượng hết sức an tâm nơi Cực lạc.
Xin vĩnh biệt Hòa thượng trong niềm đau thương vô hạn nhưng cũng với niềm tin mãnh liệt ở tương lai, xin Hòa thượng hãy yên giấc ngàn thu.

---o0o---
III. TƯỞNG NHỚ
HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ
Của Pháp lữ Thích Thiện Siêu

1

Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ ! Mới hôm nào Hòa thượng Thích Trí Thủ đã tiễn chân tôi ra sân bay đi Hà Nội để giảng dạy cho Trường Cao cấp Phật học tại chùa Quán Sứ, mà bây giờ đã gần đến ngày giỗ đầu của Hòa thượng.
Những ba năm, mỗi trang lịch dần dần đi vào dĩ vãng, nhưng lại vướng đọng trong lòng tôi nỗi ngậm ngùi, tiếc thương; tiếc thương về một bóng hình, một bóng hình in đậm vào tâm hồn tôi và chắc chắn cũng khắc sâu vào tâm hồn của Tăng Ni và Phật tử; cho dù trước giờ phút giã biệt thân tứ đại trở về cõi an nhiên tự tại, Hòa thượng đã không để lại một lời.
Tôi nhớ rõ và thực sự xúc động cái sáng sớm mồng 3 tháng 3 năm Giáp Tý ấy, lúc tôi đang ở tại chùa Quán Sứ, bỗng nhận được tin Hòa thượng đã vĩnh viễn ra đi và xa tất cả chúng ta.
Từ đó đến giờ vẫn trong hình ảnh “Nhạn quá trường giang, ảnh trầm hàn thủy, nhạn vô lưu tích chí ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm”. Nhưng thật ra, bóng nhạn vẫn chập chờn với dòng sông và dòng sông đang gợn sóng theo bóng nhạn. Cảnh sắc sắc không không hàng ngày vẫn vơi đầy nhớ kẻ trồng cây.
Tuần qua, tôi lại nhận được thư của anh em ở các Phật học viện và Pháp tử của Hòa thượng ngỏ ý cùng nhau ghi lại một số tâm tình về Hòa thượng và đề nghị tôi viết cho lời mở đầu để gọi là chút truy niệm ngày giỗ đầu của người đã khuất.
Thấy tinh thần của anh em tôi hết sức mừng, đây là điều đáng duy trì và phát huy. Tục ngữ ta có câu “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây” hay “Uống nước nhớ nguồn”. Nhớ ơn và đền đáp công ơn đó cũng là quy luật đạo đức và đó cũng là hạnh nguyện lớn của hành giả trên bước đường tu đạo.
Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là một trong muôn ngàn cách biểu lộ lòng biết ơn đối với những vị dày công đóng góp cho Đạo pháp, cho Dân tộc và ngay cả cho mỗi chúng ta. Ta thường nghe “Ngôn ngữ đạo đoạn”. Lời sẽ hạn chế đạo, hình thức lắm khi cũng làm giảm thiểu ý nghĩa. Cảm quan ta, ngôn từ ta, sẽ lúng túng, vụng về trước tác phẩm của vạn vật, trước những công đức “hành vô hành hành”. Nhưng có điều tôi cũng đồng ý với anh em “bất ngôn, thùy tri kỳ chi”. Vì thế. càng viết càng thấm, càng thấm càng cảm, càng cảm càng thương, mối giao cảm sẽ toả ngời ánh sáng, tương quan liên hệ mật thiết nước với nguồn, nguồn với nước, kẻ ăn trái, người trồng cây có thể tiếp cận nhau, gặp gỡ nhau trong không gian đích thực của dòng sinh diệt, diệt sinh vẫn chung về một nẻo.
Có điều đáng làm tôi lo lắng, lễ giỗ đầu của Hòa thượng cũng đã gần kề, liệu chúng ta có thực hiện được như ý nguyện? Dù sao những cánh chim nơi mọi phương trời vẫn nhớ về tổ ấm, ta đã, đang và sẽ mãi mãi không quên một bóng hình đáng kính đáng thương. Nhớ và tưởng niệm Hòa thượng trong niềm chân thành, với nén hương, với bình hoa đơn giản của nhà Thiền dâng cúng Hòa thượng. Ta mong ước như Hòa thượng từng ước mong “Sinh sinh dự Phật vi quyến thuộc, xứ xứ Bồ-đề kết thiện duyên”.
Ngàn xưa và ngàn sau trăng vẫn sáng, có đâu “Trăng lặng về non không trở lại”, đường về xứ Phật vẫn tỏa ngát mùi sen. Xuất phát từ ý thức này nơi cõi Lạc Bang, Hòa thượng cũng nở nụ cười hoan hỷ chứng minh lòng thành của tất cả chúng ta.

Huế, rằm tháng Giêng - Đinh Mão
Pháp lữ: Hòa thượng Thích Thiện Siêu. Cẩn niệm

---o0o---
2

Giờ đây, trước Giác Linh trang nghiêm của Cố Đại lão Hòa thượng, tất cả Tăng Ni Phật tử chúng ta đang còn mang nặng trong tâm tư nỗi niềm bùi ngùi xúc động, thương tiếc và tưởng nhớ một vị Cao Tăng, một bậc Thầy đạo hạnh cao thâm, chí nguyện kiên trì, trọn đời hiến mình cho Đạo pháp và Dân tộc. Với cố Giác linh Hòa thượng, chúng ta tất cả những người đã gần gũi, những người đã thọ ân Pháp hố, không ai không khắc cốt ghi tâm những nụ cười hoan hỷ, những dáng điệu vui tươi, những cái nhìn từ mẫn, những câu nói hiền hồ đậm đà đạo lý, nên một khi nghe Hòa thượng viên tịch, tất cả Tăng, Ni và Phật tử nơi nơi không ai cầm được giọt lệ, như thấy mình đã mất một bóng cây đại thọ che mát, như thấy mình thiếu khát những giọt nước cam lồ, như thấy mình không còn nơi nương tựa. Sự xúc động, sự nghẹn ngào đã dâng trào khắp tất cả mọi hàng Tăng Ni, Phật tử.
Ở trong chùa, ở giữa đường, ở ngoài chợ, sau khi nghe tin Hòa thượng viên tịch, tất cả đều nghĩ đến công hạnh lớn lao, chí nguyện cao cả của Hòa thượng đã ban bố cho hàng Tăng Ni, Phật tử. Nên đối trước công hạnh lớn lao đó, dầu có nói mấy cũng không cùng, dầu có tả mấy cũng không hết, nên chúng ta lắng lòng suy tư, lắng lòng nhớ tưởng, chúng ta mới thấy rõ được những nét cao siêu, những nét thâm huyền, những nét đạo hạnh nơi Hòa thượng. Hòa thượng luôn luôn phát nguyện rằng:
“Một lòng kính lạy Phật-đà
Đời đời con nguyện ở nhà Như Lai,
Con hằng mặc áo Như Lai,
Con ngồi pháp tọa Như Lai muôn đời.”
Đó là một lời nguyện thâm sâu phát xuất từ kinh Pháp Hoa, với ý nghĩa nhà Như Lai là tâm Đại từ bi. Áo Như Lai là Nhất thiết pháp không. Đại từ bi là đại bi, nhu hồ nhẫn nhục là đại hùng, nhất thiết pháp không là đại trí. Hòa thượng đã lấy câu trong kinh Pháp Hoa làm chí nguyện cao cả của mình, suốt đời tuân theo, suốt đời hành đạo. Nhờ đó mà trải qua bao nhiêu việc làm của Hòa thượng đều mang một sắc thái đậm đà đạo lý, mang một sắc thái tự lợi lợi tha, ích đời lợi đạo.
Dù tuổi đời đã bảy mươi sáu, nhưng Hòa thượng vẫn mỗi buổi sáng dậy thật sớm: hai giờ rưỡi, uống nước, tắm rửa rồi đi vào chùa lễ Phật 108 lạy trên một giờ đồng hồ, rồi lại tiếp tục trì chú thêm một giờ đồng hồ nữa. Sự tu niệm chuyên cần đó không phải chỉ một ngày, hai ngày, mà luôn luôn hàng cả hai ba chục năm, không phải ở tại chùa mình mà bất cứ ở chùa nào, sáng nào cũng làm y như thế, không phải ở trong nước mà trong khi đi ra nước ngoài dự Đại hội, làm những việc Phật sự, Hòa thượng vẫn giữ công hạnh đó. Qua các công hạnh đó để thấy rõ rằng chí nguyện Hòa thượng sâu xa biết chừng nào, nếu ngược lại, một chí nguyện mỏng manh hời hợt, thì làm sao thực hiện được một đạo hạnh thâm sâu lâu dài như thế. Một điều ấy cũng đủ cho tất cả hàng Tăng Ni, Phật tử chúng ta đời đời ghi nhớ, tất cả hàng Tăng Ni, Phật tử chúng ta đời đời noi gương Hòa thượng và kính lạy bao nhiêu lạy cũng không vừa. Huống chi Hòa thượng không phải chỉ nghĩ riêng việc lợi mình giải thoát, còn nghĩ tới việc hoằng đạo lợi sinh, dìu dắt Tăng Ni trên đường Chánh pháp. Hòa thượng từng tổ chức bao nhiêu Phật học đường: Linh Quang, Báo Quốc (Huế), Phổ Đà (Đà Nẵng), Hải Đức (Nha Trang), Già Lam (Sài Gòn), đào tạo những lớp Tăng Ni nhỏ, đào tạo những lớp Tăng Ni lớn. Hòa thượng đã đeo đuổi công hạnh đào tạo Tăng Ni của mình suốt bao chục năm trường không biết mỏi mệt. Nhờ đức tính từ hồ, hoan hỷ, bao dung, ngoài với Hòa thượng thì Hòa thượng trở thành Hòa thượng, đối với thanh niên thì Hòa thượng trở thành thanh niên, đối với Tăng trẻ Hòa thượng trở thành người trẻ, đối với em bé Hòa thượng cũng nói chuyện vui vẻ như một em bé. Do vậy mà bao nhiêu năm Hòa thượng sống với Chúng Tăng không phải tồn là những người tu đạo lâu ngày, mà những người mới nhập đạo có, những người đi sâu trên con đường tu niệm có, những người mới phát tâm có, tính tình mỗi người mỗi nết, đức hạnh mỗi người mỗi cách, thế mà Hòa thượng bao dung được tất cả dưới sự nâng niu giáo dục của mình, không từ bỏ một ai. Người có khả năng, Hòa thượng nâng đỡ theo khả năng, người khả năng kém, Hòa thượng nâng đỡ theo khả năng kém, không để cho ai trở thành người vô dụng. Đó là một công đức lớn lao, một chí nguyện cao cả, một tấm gương sáng để hàng Tăng Ni, Phật tử chúng ta soi sáng noi theo muôn đời không hết. Trong khi tổ chức giáo dục Tăng Ni, Hòa thượng đã có những cái nhìn xa thấy rộng, không phải chỉ gò bó trong một cách cổ xưa, mà nâng đỡ Tăng Ni, giáo dục Tăng Ni có những kiến thức, những đức hạnh thích hợp với hoàn cảnh với thời thế để phụng đạo lợi đời. Hòa thượng đã từng khai mở đường lối đưa Tăng Ni đi thi để có những Văn bằng Tiểu học, Trung học, rồi bằng Đại học, đủ phương tiện để tuyên dương Chánh pháp không phải chỉ lo mặt tinh thần, Hòa thượng còn lo mặt vật chất cho Tăng Ni, đi đâu cũng mở những cơ sở kinh tế tự túc để cho Tăng Ni vừa làm vừa học, vừa nuôi sống thể chất, vừa nuôi sống tinh thần, để cho một người vừa có đủ cả hạnh, cả bi, cả thể, không thiếu mặt nào. Hòa thượng cũng đã góp chung với tất cả đồng bào, thương yêu Tổ quốc, làm những điều mình có thể làm được, trải qua bao thời đại, cho nên khi nghe tin Hòa thượng viên tịch, không những chỉ những hàng Tăng Ni, Phật tử trong đạo bùi ngùi xúc động. Cố lắng lòng ôn lại những ánh mắt từ hồ, những nụ cười hoan hỷ, những dáng điệu bao dung, những cử chỉ êm đềm và những tâm tư rộng rãi, quảng đại, chúng ta mới nhớ hết được những công đức cao dày, những công hạnh sâu xa của Hòa thượng, và cố noi theo công hạnh của Hòa thượng để thực hành bước lên con đường sáng suốt lợi mình, lợi đạo, lợi đời, chúng ta mới có thể báo đáp được công đức của Hòa thượng một phần nào.
Hôm nay trước linh đài trang nghiêm, hàng Tăng Ni, Phật tử chúng ta vô cùng thành kính để tưởng niệm công đức Hòa thượng, làm lễ ngày chung thất, chúng ta cầu mong Hòa thượng Cao đăng Phật quốc, hồi nhập Ta Bà để dìu dắt chúng ta bước thêm những bước dài trên con đường đạo.

---o0o---
3

Hôm nay, vừa đúng hai năm sau ngày Hòa thượng an nhiên quy tịch. Hai năm hàng Tăng Ni, Phật tử chúng tôi phải trải qua những ngày tháng trống vắng một bậc Cao Tăng, một vị thầy đạo hạnh tôn kính, có dáng mạo đoan nghiêm, đạo phong thanh thốt, thái độ ân cần thân mật, hoan hỷ, bao dung, có nụ cười ấm mát tươi vui, biết quí người có học, có đức nhưng không khinh chê người kém cõi, sẵn lòng giúp đỡ mọi người, không phân biệt việc lớn việc nhỏ, miễn thấy có lợi cho đạo cho đời, ứng hợp với lòng từ bi thì không hề từ chối. Không ưa sống cuộc sống riêng lẻ cô tịch mà ưa sống hòa mình vào đời sống của đại chúng để dìu dắt họ, sống giữa Chúng Tăng đông đảo, cùng ăn với họ, thậm chí có khi đi tắm biển, đánh ping-pông với họ, nhưng không vì vậy mà làm mất vẻ uy nghi, phai mờ đạo hạnh, bỏ lơi thời khố biểu tu trì, vun bồi đạo nghiệp.
Đã sẵn mang hồi bão thừa Như Lai sứ, nên hễ gặp Phật sự gì đòi hỏi, Hòa thượng đều sẵn sàng vui vẻ gánh vác, không luận chức vụ gì. Khi làm Trú trì, khi Giáo sư, Giảng sư, Thư ký, Hội trưởng. Khi Viện trưởng  (3), khi Chủ tịch (4), nhưng không hề có sự mâu thuẫn giữa chức vụ này với chức vụ kia, vì trước sau trong tâm tư Hòa thượng cũng chỉ đeo đuổi một mục đích chí nguyện hoằng dương Chánh pháp, lợi lạc quần sinh, thương yêu Tổ quốc đồng bào với tinh thần vô ngã vị tha, với hạnh Phổ Hiền, thượng cầu hạ hố, với đức tính tịnh mà không trầm, động mà không loạn, ở trên người mà không thấy nặng, ở dưới người mà không thể khinh, Hòa thượng đã hiến trọn đời mình cho Đạo pháp, cho Dân tộc, cho nhân loại, cả trong nước lẫn nước ngoài theo lời thệ nguyện mà Hòa thượng đã nêu cao từ trước:
“Đốt nén tâm hương trước Phật đài,
Phổ Hiền hạnh cả nguyện đừng sai.
Biến thân cát bụi thần thông hiện,
Chữa bệnh trầm kha khắp mọi lồi.”
Kính bạch Giác linh Hòa thượng,
Hôm nay, trước Bảo tháp uy nghi, Giác linh tịch mặc, chúng tôi đồng tâm kính thành tưởng niệm, ngưỡng mong Giác linh Hòa thượng thùy từ chứng giám.

---o0o---
4

Hòa thượng họ Nguyễn húy Văn Kính, Pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Thích Trí Thủ, sinh ngày 19 tháng 09 năm Kỷ Dậu (1909) tại Trung Kiên, Quảng Trị. Mười bảy tuổi xuất gia, hai mươi tuổi thọ Cụ túc giới, tự pháp đời thứ 43 phái thiền Lâm tế.
Với chí nguyện thượng cầu hạ hóa, Hòa thượng là một trong những vị đi đầu trong các cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà. Mở nhiều Phật học viện, trùng tu nhiều Phạm vũ, khai sơn Quảng Hương Già Lam. Mở nhiều Đại giới đàn và phiên dịch giảng giải kinh, luật, luận. Hòa thượng không ngừng tiếp dẫn hậu lai cho Tăng tín đồ được nhờ ơn Pháp vũ, xuất thế tinh chuyên đã vậy. Nào quên nhập thế độ sanh, dẫu tuổi già chẳng ngại dấn thân, hạnh Phổ Hiền lợi đời lợi đạo, biết sự thế lắm phen khe khắt. Tâm hồn luôn hoan hỷ bao dung, mãn cơ duyên chuyển thân tứ đại trả về đây. Song thọ Ta-la chúng sinh đồng truy niệm.
Như thị chân như thị huyễn.
Như thị công đức trang nghiêm.
(Hòa thượng viên tịch ngày mồng 2 tháng 3 năm Giáp Tý (1984). Tháp bia hồn thành ngày 19-9 năm Ất Sửu (1985).

Thất chúng đệ tử phụng lập
Kính ghi: Hòa thượng THÍCH THIỆN SIÊU.

---o0o---

5.KẾT  DÒNG  TIỂU  SỬ

Ấy là lúc cửa thiền đôi cánh khép,
Bóng chim nào lưu ảnh giữa trường giang?
Trong dáng từ bi chiếc áo the vàng,
Thùy kim thủ nâng niu hồn thảo mộc…
Vòi nước tưới cây, cọng rau cho cá,
Con chó lân la làm bạn, con heo vòi vĩnh đòi ăn.
Chén trà đắc ý câu thơ,
Bên võng ngồi nghe chuyện kể.
Đêm tĩnh mịch bưng đèn thăm giấc ngủ chúng Tăng,
Chuông sớm điểm sương tan, một trăm lẻ tám gối già chưa mệt,
Chăm sóc đạo tràng Thiền Tịnh: hai lớp còn mường tượng âm dung.
Đốc suất làm tự điển bách khoa: giấy mực hai lần còn ngơ ngẩn.
Ôi hạnh nguyện vô cùng, thân người có hạn,
Bảy mươi sáu tuổi đời, năm mươi sáu tuổi đạo.
Ngày hai tháng tư người giải thoát an nhiên,
Biết làm sao? Biết làm sao ngăn niềm xúc động vô biên!
Thế giới vô thường, không có ngã ai mà sinh diệt,
Nhưng giọt lệ nhân thiên nghẹn ngào giờ ly biệt.
Nguyên Hồng

 

This entry was posted in . Bookmark the permalink.